
Hosted by Diệu Pháp Âm · VI

Cách đây hơn 20 năm, hòa thượng Thượng Trí Hạ Minh viện chủ chùa Mai Sơn đã đem bộ Tứ Phần Tỳ Kheo Ni chú giải tác giả là ni sư Phật Oánh giảng dạy cho ni chúng tại tịnh thất Lạc Quốc ở Tam Bố tỉnh Lâm Đồng, những lời vàng ngọc của ngài được ghi chép lại tổng cộng gần 40 tập. Sau này ngài mang bản thảo đến nhờ tôi chỉnh lý cho hoàn chỉnh để in thành sách ngõ hậu làm tài liệu để Ni giới học tập, giảng dạy và hành trì, nhưng do bận quá nhiều Phật sự, qua hơn 2 năm mà tôi vẫn chưa bắt tay vào việc chỉnh sửa bản thảo, chính vì vậy hòa thượng đã giao bản thảo ấy cho Ni trưởng Hải Triều Âm. Gần đây Phật tử Liên Hoa phát tâm in ấn tất cả các tác phẩm dịch thuật giảng giải và trước tác của hòa thượng Trí Minh, nhờ nhân duyên này nên chúng tôi cố gắng tìm lại bản gốc bộ Tỳ kheo Ni chú giải mà trước kia hòa thượng đã dịch để tiến hành việc hiệu đính. Trải qua thời gian trên một năm thì tác phẩm được thực hiện xong, thiết nghĩ bộ tỳ kheo Ni chú giải của Ni Sư Phật Oánh khá hoàn thiện so với các bộ chú giải khác từ trước đến nay. Bộ này rất sâu rộng về mọi mặt, vì lẽ Ni sư là một bác sĩ thời cận đại nên lối giải thích và dẫn dụ trong đây rất thực tiễn và khoa học có sức thuyết phục cao và hoàn toàn phù hợp với hoàn cảnh sống hiện tại của chúng ta. Chính vì vậy có thể khẳng định một cách chắc chắn rằng đây là một bộ luật chuẩn mực và quý báu dành cho những ai nghiên cứu và hành trì giới luật. Bộ luật này thành tựu phần lớn nhờ vào thần lực gia hộ, chư Phật, chư Bồ Tát, chư Tổ sư. Bên cạnh đó không thể kể đến sự tham gia bằng tấm lòng chí thành chí kính đối với tam bảo của Phật tử Liên Hoa. Như vậy hoài bão bao năm của hòa thượng nay đã được thành tựu viên mãn. (Trích nhân duyên dịch) Nhà xuất bản: Tôn Giáo Người dịch: HT Thích Trí Minh Người đọc: Kiều Hạnh, Tịnh Bảo

Trong tập sách nhỏ này, Thrangu Rinpoche trình trình bày một cách ngắn gọn nhưng đầy đủ và rõ ràng tánh không trong truyền thống Phật giáo Tây tạng, cả về giáo lý lẫn tu tập. Có thể nói đây là một kết hợp chặc chẽ của giáo lý và tu tập trong Phật giáo Tây tạng, đặc biệt là trong dòng truyền Karma Kagyu. Lý thuyết và thực hành hỗ trợ cho nhau, tạo nên sự quân bình trong lý thuyết và thực hành của Phật giáo Tây tạng. Tánh không ở đây khởi đầu từ chính đức Phật, cụ thể là mười sáu cái không đã xuất hiện trong những lời dạy của Ngài trong kinh Ma-ha Bát-nhã Ba-la-mật-đa và cô đọng trong các giáo pháp vô ngã, bát chánh đạo, và giáo lý duyên khởi của Ngài, bắt đầu với chánh kiến hay là cái thấy đúng của Phật pháp. Các giáo lý này của đức Phật là nguồn nước tinh khôi, thuần khiết, miên viễn chảy lung linh trong tất cả các tông phái Phật giáo, đặc biệt là trong các truyền thống Rangtong và Shentong của Phật giáo Tây tạng. Vào thế kỷ thứ nhất của Kỷ nguyên, khi Đại sư Long Thọ (Nāgārjuna) xuất hiện, như chính đức Phật đã tiên tri, tánh không được phát huy đến tột đỉnh của nó với “nhất thiết pháp không” được Long Thọ trình bày dưới hình thức biện chứng pháp trong Trung Luận(Mūlamadhyamakākarikā) với công thức “Bát Bất” lừng danh,[1] và cùng với các luận khác của sư, đã khai sáng một trường phái Đại thừa có ảnh hưởng lớn nhất ở Ấn độ thời bấy giờ, với sự đóng góp của các sư khác như Thánh Thiên (Āryadeva), Phật Hộ (Buddhapālita), Nguyệt Xứng (Chandrakīrti)…, tánh không được phát đại quang huy, về sau trở thành truyền thống Rangtong trong Phật giáo Tây tạng cho đến ngày nay. Rồi đến thế kỷ thứ tư của Kỷ nguyên, với sự xuất hiện của một đại sư khác, Đại sư Vô Trước (Asanga), cũng đã được đức Phật tiên tri, tánh không đã được nêu thêm là tính trong sáng quang minh hay Phật tánh như đã được trình bày trong Luận Phật Tánh (Tạng: Uttaratantra Shāstra), cũng gọi là Luận Bảo Tánh (Phạn: Ratnagotravibhāga) của đức Di Lặc và bốn luận khác do Vô Trước viết thành văn và luận giải, gọi là “Năm Luận của Di Lặc,” khiến cho tư tưởng “tánh không” trở thành tư tưởng “chân không diệu hữu” trong tư tưởng Đại thừa (Mahāyāna) và Kim Cương thừa (Vajra-yāna) của Phật giáo. Cùng với một số luận khác như Luận Du Già Sư Địa (Yogāchārabhūmi Shāstra), v.v…, Đại sư Vô Trước đã khai sáng trường phái Đại thừa Du-già Hành tông (Yogāchāra) và khi truyền sang Tây tạng, được các luận sư Tây tạng như Jamgon Khongtrul luận giải trong Tập Yếu Tri Kiến (Shes-bya Kun-Khyab-Mdzod), và được truyền trao trong trường phái Trung đạo Shentong ở Tây tạng cho đến ngày nay. Trong tập sách này, Thrangu Rinpoche đã dựa trên chương 7 của Tập Yếu Tri Kiến của Jamgon Kongtrul, một trong những luận sư danh tiếng nhất của Phật giáo Tây tạng ở thế kỷ 19, để trình bày các cái thấy về tánh không theo hai truyền thống Rangtong và Shentong thuộc trường phái Trung đạo của Phật giáo Tây tạng. Đây là một tài liệu quí cho những ai muốn có cái nhìn giản dị, trong sáng về giáo lý và tu tập, nhất là với các pháp môn quán tưởng Yi-đam (bổn tôn), Đại Thủ ấn (Mahāmudrā) và Đại Hoàn thiện (Dzog-chen) trong các truyền thừa chính của Phật giáo Mật tông Tây tạng. Bản dịch tiếng Việt này được chúng tôi thực hiện từ bản tiếng Anh “Shentong & Rantong, Two Views of Emptiness” (Shentong & Rangtong, Hai Cái Thấy về Tánh Không) do Peter Roberts thông dịch những bài nói của Thrangu Rinpoche ban cho tại Thrangu House ở Oxford, Luân đôn, Anh quốc vào năm 1995, được Clark Johnson biên tập, chú thích, và giới thiệu, và nhà Namo Buddha Publications xuất bản ở Colorado, Hoa kỳ vào năm 2009. Dù đã cố gắng nhiều nhưng chắc vẫn còn sai sót, xin độc giả rộng lượng chỉ bảo cho. Đa tạ. (Trích lời người dịch) Tác giả: Khenchen Thrangu Rinpoche Người dịch: Đỗ Đình Đồng Người đọc: Bình Nguyên

Sách này nằm trong Vạn 106/342-349. Sách không có chú giải, chỉ có rất ít cước chú của chính tác giả. Sách tên Sa di thập giới uy nghi lục yếu, cùng nghĩa với tên Sa di luật nghi yếu lược. Sa di thập giới uy nghi lục yếu nghĩa là bản trích lục những điều cốt yếu về mười giới luật và các uy nghi của cấp bậc Sa di. Tác giả sách này là ngài Trí húc. Niên đại của ngài là 3/5 kỷ hợi (1599), 21/11 giáp ngọ (1654), cuối Minh đầu Thanh, vừa được nước lại mất nước. Ngài tên Trí húc, tự Ngẫu ích, tự hiệu Bát bất đạo nhân, và theo chỗ ngài ở mà gọi ngài là Linh phong. Cha trì chú Bạch y đại sĩ cầu con, mẹ mộng thấy đại sĩ bồng con trao cho mà sinh ngài. Ban đầu học Nho, lấy Nho học làm trách nhiệm của mình, viết Tịch Phật luận vài mươi thiên, 17 tuổi đọc Tự tri lục và Trúc song tùy bút của ngài Châu hoằng thì đem luận ấy đốt đi. Hai mươi tuổi mất cha, đọc kinh Địa tạng mà phát tâm xuất thế. Nghe một vị pháp sưu giảng kinh Lăng nghiêm, đến câu “không sinh đại giác trung” thì phát nghi mà không giải tỏa được, nên đối trước tượng Phật phát 48 nguyện, quyết chí xuất gia. Năm 1622, ngài 3 lần mộng thấy ngài Hàm sơn (Hám sơn), nhưng bấy giờ ngài này cư trú Tào khê, ngài không thể đến theo, nên theo học trò của ngài Hàm sơn là ngài Tuyết lãnh mà xin thế độ. Rồi đến Vân thê, nghe cổ đức giảng luận Duy thức, nghi không hợp tôn chỉ Lăng nghiêm nên xin hỏi. Vị cổ đức nói, 2 tông tánh tướng không thể dung hợp. Ngài trong bụng lấy làm lạ, Phật pháp há có 2 nẻo ? Do đó mà vào Kính sơn tham thiền, tánh tướng 2 tông một lúc thấu triệt. Ngài thấy Luật học hoang phế, nên lấy việc chấn hưng Luật học làm nhiệm vụ của mình. Đã viết Tỳ ni tập yếu rồi, lại muốn chú giải kinh Phạn võng, nên đối trước Phật, mở kinh Chiêm sát khấn bói để quyết định theo tông nào. Thì bói được Thiên thai tông. Vậy là ngài để tâm nghiên cứu Thiên thai tông, nhưng không chịu làm con cháu tông này. Sinh bình trước thuật hơn 40 thứ, từng nói, đời tôi không có gì đáng nói, chỉ có sự phát đại bồ đề tâm, quên mình vì người là có thể chất chính với các đấng Từ tôn trong 3 thì gian (Bảo 2200). Trong bài tụng Đại hùng phong có câu “đản tùng Long thọ thông tiêu tức”. Câu ấy có thể biểu thị tôn chỉ của ngài. Cái tự hiệu Bát bất đạo nhân càng chứng tỏ điều ấy. Lý do và tài liệu của sách này thì ngài Trí húc đã tự nói trong lời nói đầu. Tôi chỉ nói mấy điều cần thiết sau đây. Một, sách tuy chỉ nói Sa di, nhưng có thể hiểu là cấp bậc Sa di, nghĩa là gồm cả Sa di ni. Hai, sách tuy bố trí và trích lục khá nhiều theo sách Sa di luật nghi yếu lược, nhưng mọi sự trích lục ấy chỉ sắp thứ tự, hay bớt thêm một chút thôi, cũng nổi bật đặc sắc lên. Ba, đặc biệt về 10 giới luật thì phải có sự cắt nghĩa của giới này mới giúp rõ cho sự hành trì. Bốn, về các uy nghi, thêm các thứ 24 và 25 thật đặc biệt và cần thiết, thứ 23 bổ túc điều chỉnh thật xứng đáng, thứ 26 bổ túc điều chỉnh thật đặc biệt. Nói tóm, giá trị sách này nếu không muốn nói hơn Sa di luật nghi yếu lược thì cũng phải nói có nó mới bổ túc và điều chỉnh khá nhiều cho sách ấy. Sách này tôi dịch sát nguyên văn chỉ lời nói đầu tiên và phụ lục sau hết là trích dịch chỗ nào cần. Nguyên văn sách này có một số rất ít cước chú, chữ nhỏ, viết hàng đôi dưới văn chính. Nay tôi dịch cước chú ấy thì mở đóng vòng đơn. Còn chú thích của tôi chỗ nào cần thì đánh số mà chú thích ngay dưới mỗi đoạn. (Trích tiểu dẫn) Tỷ kheo Trí Quang biên tập Người đọc: Trần Vũ, Kiều Hạnh

Tác giả: Tỷ Kheo Trí Quang Nhà xuất bản: Văn Hóa Sài Gòn Người đọc: Kiều Hạnh

Tác giả: Tỷ Kheo Trí Quang Nhà xuất bảnL Văn Hóa Sài Gòn Người đọc: Trần Vũ

Tôi chưa nghiên cứu sâu về kinh Bảo Tích, vì việc chuyên môn của tôi là nghiên cứu và tu kinh Pháp Hoa. Khi đọc qua bản dịch của Hòa thượng Trí Tịnh về kinh Bảo Tích, tôi thấy có nhiều điểm rất khó hiểu. Vì vậy, khi có yêu cầu giảng dạy cho Tăng Ni sinh của Viện Phật học cũng như Trường Cao đẳng Phật học, tôi mới bắt đầu nghiên cứu và giảng dạy bộ kinh Bảo Tích. Giảng dạy bộ kinh Bảo Tích, một phần lớn tôi cảm nhận kinh này qua tinh thần kinh Pháp Hoa và kinh Hoa Nghiêm. Vì lý do đó, khi giảng bộ kinh này, tôi thường dẫn dụng kinh Pháp Hoa và kinh Hoa Nghiêm để triển khai áo nghĩa của Bảo Tích. Ngoài ra, theo tinh thần các pháp đồng là Phật pháp hay đồng dẫn đến cứu cánh Nhứt Phật thừa, tất cả kinh điển của Phật đều hướng về con đường giác ngộ, giải thoát. Tôi thiết nghĩ dựa trên tinh ba của kinh Pháp Hoa và kinh Hoa Nghiêm để thâm nhập yếu nghĩa của kinh Bảo Tích cũng không có gì là sai trái. Bộ kinh Bảo Tích quá nhiều mà thời gian giảng dạy cho Tăng Ni sinh ở các Trường Phật học thì ngắn ngủi, nên tôi không thể giảng dạy trọn vẹn bộ kinh Bảo Tích. Tôi chỉ trích giảng những pháp hội cần thiết có liên quan nhiều đến sinh hoạt tu học của Tăng Ni hiện nay. Đó là tinh thần giới luật Tam tụ luật nghi, tiêu chuẩn làm Phật theo Đức Phật A Di Đà liên hệ đến Tịnh độ tông hay Phật A Súc liên hệ đến Thiền tông, hoặc Bồ tát pháp là việc làm mà đệ tử Phật cần thực hiện để tồn tại thích nghi với sinh hoạt của xã hội thời nay. Mong các bậc thiện tri thức đọc tác phẩm này, nếu có những điểm không hài lòng, xin hoan hỷ bỏ qua, hoặc vui lòng góp ý để chúng ta cùng nhau thăng hoa trên bước đường thượng cầu Phật đạo, hạ hóa chúng sanh. HT. Thích Trí Quảng (Trích lời tựa) Nhà xuất bản: Hồng Đức Người dịch: HT Thích Trí Quảng Người đọc: Bình Nguyên, Tuấn Anh, Kiều Hạnh

Tôi dịch tập Dhammapada ra tiếng Việt để cúng dường Phật đản 2513 (1969). Quyển kinh Dhammapada thuộc tập Khud daka Nikaya (Tiểu bộ kinh) được xem như quyển Thánh kinh trong Phật giáo và trở thành một trong những tập sách được dịch ra nhiều thứ tiếng nhất trong kinh sách Phật giáo. Không những 423 bài kệ trong kinh này tóm thâu tinh hoa giáo lý đức Phật, nhưng nhiều bài kệ đã trở thành những lời dạy chính đức Phật thân thuyết. Và đọc những bài kệ này, chúng ta cảm thấy như thân nghe chính lời Phật dạy từ hơn 2000 năm vang lại. Giá trị bất hủ của tập Dhammapada là ở chỗ này, và ta cảm thấy không còn sợ trung gian của các vị Tổ sư kết tập kinh điển. Chúng tôi cho dịch theo thể kệ năm chữ một, để thật trung thành với nguyên văn, và quí vị sẽ thấy rõ sự cố gắng của chúng tôi, đã dịch hết sức sát với nguyên văn, và nhiều bài kệ có thể xem không thêm, không bớt, một chữ Pali chúng tôi cũng cố gắng tôn trọng đến mức tối đa. Vì đây là thể kệ chứ không phải là thể thơ nên không có thi hóa trong bản dịch của tôi. Dịch tập Dhammapada này ra thể kệ, chúng tôi chỉ có một tâm nguyện mong sao những lời dạy này của đức Phật sẽ soi sáng dẫn đường cho mọi hành động, tâm tư, ngôn ngữ của chúng ta. Và ở trong một thời đại đầy máu lửa đau thương nước mắt, đầy những phân hóa, hỗn tạp, hận thù này, những lời dạy này của đức Phật xoa dịu một phần nào cho tâm tư đã quá căng thẳng hay buồn nản của con người Việt Nam, làm con người Phật tử trở lại con người Phật tử. Vạn Hạnh ngày Phật Đản 2513 (1969) Tỳ Kheo Thích Minh Châu Viện Trưởng Viện Đại Học Vạn Hạnh. Người dịch: HT Thích Minh Châu Người đọc: Kim Phụng

Tôi dịch tập Dhammapada ra tiếng Việt để cúng dường Phật đản 2513 (1969). Quyển kinh Dhammapada thuộc tập Khud daka Nikaya (Tiểu bộ kinh) được xem như quyển Thánh kinh trong Phật giáo và trở thành một trong những tập sách được dịch ra nhiều thứ tiếng nhất trong kinh sách Phật giáo. Không những 423 bài kệ trong kinh này tóm thâu tinh hoa giáo lý đức Phật, nhưng nhiều bài kệ đã trở thành những lời dạy chính đức Phật thân thuyết. Và đọc những bài kệ này, chúng ta cảm thấy như thân nghe chính lời Phật dạy từ hơn 2000 năm vang lại. Giá trị bất hủ của tập Dhammapada là ở chỗ này, và ta cảm thấy không còn sợ trung gian của các vị Tổ sư kết tập kinh điển. Chúng tôi cho dịch theo thể kệ năm chữ một, để thật trung thành với nguyên văn, và quí vị sẽ thấy rõ sự cố gắng của chúng tôi, đã dịch hết sức sát với nguyên văn, và nhiều bài kệ có thể xem không thêm, không bớt, một chữ Pali chúng tôi cũng cố gắng tôn trọng đến mức tối đa. Vì đây là thể kệ chứ không phải là thể thơ nên không có thi hóa trong bản dịch của tôi. Dịch tập Dhammapada này ra thể kệ, chúng tôi chỉ có một tâm nguyện mong sao những lời dạy này của đức Phật sẽ soi sáng dẫn đường cho mọi hành động, tâm tư, ngôn ngữ của chúng ta. Và ở trong một thời đại đầy máu lửa đau thương nước mắt, đầy những phân hóa, hỗn tạp, hận thù này, những lời dạy này của đức Phật xoa dịu một phần nào cho tâm tư đã quá căng thẳng hay buồn nản của con người Việt Nam, làm con người Phật tử trở lại con người Phật tử. Vạn Hạnh ngày Phật Đản 2513 (1969) Tỳ Kheo Thích Minh Châu Viện Trưởng Viện Đại Học Vạn Hạnh. Người dịch: HT Thích Minh Châu Người đọc: Bình Nguyên

Cách đây hơn 20 năm, hòa thượng Thượng Trí Hạ Minh viện chủ chùa Mai Sơn đã đem bộ Tứ Phần Tỳ Kheo Ni chú giải tác giả là ni sư Phật Oánh giảng dạy cho ni chúng tại tịnh thất Lạc Quốc ở Tam Bố tỉnh Lâm Đồng, những lời vàng ngọc của ngài được ghi chép lại tổng cộng gần 40 tập. Sau này ngài mang bản thảo đến nhờ tôi chỉnh lý cho hoàn chỉnh để in thành sách ngõ hậu làm tài liệu để Ni giới học tập, giảng dạy và hành trì, nhưng do bận quá nhiều Phật sự, qua hơn 2 năm mà tôi vẫn chưa bắt tay vào việc chỉnh sửa bản thảo, chính vì vậy hòa thượng đã giao bản thảo ấy cho Ni trưởng Hải Triều Âm. Gần đây Phật tử Liên Hoa phát tâm in ấn tất cả các tác phẩm dịch thuật giảng giải và trước tác của hòa thượng Trí Minh, nhờ nhân duyên này nên chúng tôi cố gắng tìm lại bản gốc bộ Tỳ kheo Ni chú giải mà trước kia hòa thượng đã dịch để tiến hành việc hiệu đính. Trải qua thời gian trên một năm thì tác phẩm được thực hiện xong, thiết nghĩ bộ tỳ kheo Ni chú giải của Ni Sư Phật Oánh khá hoàn thiện so với các bộ chú giải khác từ trước đến nay. Bộ này rất sâu rộng về mọi mặt, vì lẽ Ni sư là một bác sĩ thời cận đại nên lối giải thích và dẫn dụ trong đây rất thực tiễn và khoa học có sức thuyết phục cao và hoàn toàn phù hợp với hoàn cảnh sống hiện tại của chúng ta. Chính vì vậy có thể khẳng định một cách chắc chắn rằng đây là một bộ luật chuẩn mực và quý báu dành cho những ai nghiên cứu và hành trì giới luật. Bộ luật này thành tựu phần lớn nhờ vào thần lực gia hộ, chư Phật, chư Bồ Tát, chư Tổ sư. Bên cạnh đó không thể kể đến sự tham gia bằng tấm lòng chí thành chí kính đối với tam bảo của Phật tử Liên Hoa. Như vậy hoài bão bao năm của hòa thượng nay đã được thành tựu viên mãn. (Trích nhân duyên dịch) Nhà xuất bản: Tôn Giáo Người dịch: HT Thích Trí Minh Người đọc: Bình Nguyên, Tịnh Bảo, Kiều Hạnh

Tôi chưa nghiên cứu sâu về kinh Bảo Tích, vì việc chuyên môn của tôi là nghiên cứu và tu kinh Pháp Hoa. Khi đọc qua bản dịch của Hòa thượng Trí Tịnh về kinh Bảo Tích, tôi thấy có nhiều điểm rất khó hiểu. Vì vậy, khi có yêu cầu giảng dạy cho Tăng Ni sinh của Viện Phật học cũng như Trường Cao đẳng Phật học, tôi mới bắt đầu nghiên cứu và giảng dạy bộ kinh Bảo Tích. Giảng dạy bộ kinh Bảo Tích, một phần lớn tôi cảm nhận kinh này qua tinh thần kinh Pháp Hoa và kinh Hoa Nghiêm. Vì lý do đó, khi giảng bộ kinh này, tôi thường dẫn dụng kinh Pháp Hoa và kinh Hoa Nghiêm để triển khai áo nghĩa của Bảo Tích. Ngoài ra, theo tinh thần các pháp đồng là Phật pháp hay đồng dẫn đến cứu cánh Nhứt Phật thừa, tất cả kinh điển của Phật đều hướng về con đường giác ngộ, giải thoát. Tôi thiết nghĩ dựa trên tinh ba của kinh Pháp Hoa và kinh Hoa Nghiêm để thâm nhập yếu nghĩa của kinh Bảo Tích cũng không có gì là sai trái. Bộ kinh Bảo Tích quá nhiều mà thời gian giảng dạy cho Tăng Ni sinh ở các Trường Phật học thì ngắn ngủi, nên tôi không thể giảng dạy trọn vẹn bộ kinh Bảo Tích. Tôi chỉ trích giảng những pháp hội cần thiết có liên quan nhiều đến sinh hoạt tu học của Tăng Ni hiện nay. Đó là tinh thần giới luật Tam tụ luật nghi, tiêu chuẩn làm Phật theo Đức Phật A Di Đà liên hệ đến Tịnh độ tông hay Phật A Súc liên hệ đến Thiền tông, hoặc Bồ tát pháp là việc làm mà đệ tử Phật cần thực hiện để tồn tại thích nghi với sinh hoạt của xã hội thời nay. Mong các bậc thiện tri thức đọc tác phẩm này, nếu có những điểm không hài lòng, xin hoan hỷ bỏ qua, hoặc vui lòng góp ý để chúng ta cùng nhau thăng hoa trên bước đường thượng cầu Phật đạo, hạ hóa chúng sanh. HT. Thích Trí Quảng (Trích lời tựa) Nhà xuất bản: Hồng Đức Người dịch: HT Thích Trí Quảng Người đọc: Huy Hồ, Bình Nguyên, Tuấn Anh