
Hosted by RFI Tiếng Việt · VI
Góc vườn âm nhạc của RFI

Valentine's Day Golden Hits là tựa đề danh sách các tình khúc chọn lọc phát hành trên nền tảng Deezer nhân mùa lễ tình yêu. Những bản nhạc một thời vang bóng nay được phổ biến lại trên mạng như L.o.v.e (Tình viết từng chữ) của Nat King Cole, You're my everything (Em là tất cả) của Santa Esmeralda, The end of the world (Ngày thế giới không còn) dưới dạng liên khúc hay là Crazy (Tình si) của Willie Nelson. Về giai thoại "Crazy", bản nhạc này ăn khách lần đầu tiên vào năm 1961 qua giọng ca của Patsy Cline, rồi sau đó ra đời hàng trăm bản ghi âm khác, nhưng tác giả bài hát này chính là Willie Nelson. Vào thời bấy giờ, ông là một ca sĩ nhạc đồng quê (country) chưa nổi tiếng. Thời buổi khó khăn, ông làm đủ mọi nghề để kiếm sống. Trả lời phỏng vấn trong chương trình Storytellers trên kênh VH1, ca sĩ kiêm tác giả Willie Nelson tiết lộ rằng ban đầu ông đã tìm cách bán bản nhạc này cùng với một số sáng tác khác của mình cho nam ca sĩ Larry Butler, với giá 10 đô la cho mỗi bài hát. Nhưng rốt cuộc, Larry Butler đã từ chối. Do vậy, bản nhạc này mới được gửi cho Patsy Cline. Mặc dù ban đầu Patsy không thích bản nhạc "Crazy", nhưng may mắn thay, chồng của cô là Charlie Dick và nhà sản xuất Owen Bradley đều cảm nhận được tiềm năng thương mại của bài hát này, cho nên họ đã thuyết phục cô thu âm bản nhạc. Nhờ chất giọng mượt trầm nồng ấm contralto của Patsy Cline, giai điệu này trở thành một bản hit lớn vào năm 1961. Đang trên đỉnh thành công, Patsy Cline lại đột ngột qua đời do tai nạn máy bay hai năm sau đó (1963) ở tuổi 30, khép lại một sự nghiệp huy hoàng dù ngắn ngủi, tính từ năm 1957 với thành công của bản nhạc "Walking after midnight". Giai điệu "Crazy" là bài hát nổi tiếng nhất của Patsy Cline, đồng thời tạo bước đột phá quan trọng trong sự nghiệp sáng tác của Willie Nelson. Ông thành danh trong làng nhạc country Hoa Kỳ từ giữa thập niên 1960 trở đi. Tuy sự nghiệp không được dài, Patsy Cline đã mở đường cho nhiều giọng ca nữ trong lãnh vực nhạc đồng quê. Do vậy, mười năm sau ngày qua đời, cô là nữ nghệ sĩ đầu tiên được tôn vinh vào năm 1973 tại Đại sảnh Danh Vọng nhạc Đồng quê (Country Music Hall of Fame). Vào năm 2002, Patsy Cline cũng về đầu danh sách 40 giọng ca nữ xuất sắc nhất trong làng nhạc đồng quê (The 40 Greatest Women of Country Music). Trên thị trường quốc tế, đã có khá nhiều nghệ sĩ nổi tiếng từng ghi âm lại ca khúc này, theo phong cách jazz có Norah Jones và Diana Krall (2003), theo lối hoà âm nhạc pop có BJ Thomas hay Julio Iglesias (1994), còn thuần chất country thì có phiên bản của LeAnn Rimes từng ăn khách trên thị trường Anh-Mỹ. Về phần Willie Nelson, ông đã từng song ca bài này với nhiều nghệ sĩ trứ danh như Johnny Cash vào năm 1998, Paul Anka năm 2013 và gần đây hơn là với Michael Buble vào năm 2022. Trong vòng hơn nửa thế kỷ qua, nhạc phẩm "Crazy" đã có hơn 500 phiên bản khác nhau, ghi âm trong 9 ngôn ngữ. Riêng trong tiếng Việt, bài này có ba lời khác nhau. Lời thứ nhất là nhạc phẩm "Si tình" của tác giả Khúc Lan qua giọng ca Sĩ Phú. Lời thứ nhì là nhạc phẩm "Lệ tình" để tên tác giả Lan Anh qua phần ghi âm của nghệ sĩ Thiên Phú. Lời thứ ba là nhạc phẩm "Tình Si" của tác giả Nguyễn Hoàng Đô qua phần trình bày của hai ca sĩ Vĩnh Yên và Phát Đạt. Theo chính lời kể của Willie Nelson, tựa đề ban đầu của bài hát là "Stupid", nhưng sau đó ông lại đổi tựa thành "Crazy", nhẹ nhàng hơn trong cách phát âm nhả chữ, nhưng lời hát vẫn có cùng một ý tứ : Cho dù đã hết tuổi ngây thơ, khi yêu, ai lại chẳng mù quáng đến ngốc nghếch, dại khờ.

Hiếm khi nào, một bài hát tiếng Ý đoạt cùng lúc hai giải thưởng lớn tại châu Âu, để rồi trở thành một trong những ca khúc ăn khách nhất thị trường quốc tế. Đó là trường hợp của nhạc phẩm « Non ho l'età » (per amarti) hiểu theo nghĩa chưa đến tuổi yêu người, từng được phóng tác sang tiếng Việt thành nhạc phẩm « Trọn đời bên anh ». Do hai nhạc sĩ Nicola Salerno và Mario Panzeri đồng sáng tác, nhạc phẩm « Non ho l'età (per amarti) » từng được đưa đi tranh giải tại liên hoan ca khúc tiếng Ý, tổ chức tại thành phố Sanremo vào năm 1964. Vào thời bấy giờ, bài hát được cô ca sĩ Gigliola Cinquetti, khi đó mới 16 tuổi, trình diễn trực tiếp trên sân khấu đài truyền hình Ý (RAI). Còn phiên bản tiếng Pháp "Je suis à toi" (Em thuộc về anh) do ca sĩ người Ý gốc Bỉ Patricia Carli viết lời và ghi âm. Theo thông lệ, người đoạt giải nhất liên hoan ca khúc tiếng Ý San Remo (còn được gọi là Festival della Canzone Italiana ra đời vào năm 1951) thường được quyền ưu tiên đại diện chonước Ý nhân cuộc thi hát truyền hình châu Âu Eurovision Song Contest diễn ra vài tháng sau đó. Bất ngờ thay, bài hát tiếngÝ « Non ho l'età » giành lấy thêm giải đầu cuộc thi hát châu Âu cùng năm (1964) ở Copenhagen, thủ đô Đan Mạch. Ca sĩ người Ý Gigliola Cinquetti trở thành người thắng giải trẻ tuổi nhất trong lịch sử cuộc thi, mở đường cho nhiều giọng ca trẻ khác như France Gall đoạt giải Eurovision một năm sau (1965) với nhạc phẩm « Poupée de cire, poupée de son » (Búp bê không tình yêu). Mãi đến năm 1986, kỷ lục này mới được cô ca sĩ người Bỉ Sandra Kim phá vỡ do cô đoạt giải Eurovision với nhạc phẩm "J'aime la vie" ở tuổi13. Gần đây hơn, chi có nhóm nhạc rock người Ý Maneskin mới lặp lại thành tích này vào năm 2021, khi giành lấy cùng lúc giải nhất tại liên hoan San Remo và tại cuộc thi hát Eurovision. Nhờ hai giải thưởng này, nhạc phẩm « Non ho l'età » (per amarti) sau đó đã đứng đầu bảng xếp hạng ở nhiều nước châu Âu. Bài hát được chuyển lời sang 10 ngôn ngữ khác nhau. Phiên bản tiếng Anh là « This is my prayer ». Bài này sau đó được ông hoàng Elvis ghi âm với một tựa đề khác là « Please don't stop loving me ». Riêng trong tiếng Pháp, Patricia Carli (đồng tác giả sau này của bài Mưa trên biển vắng) ghi âm bản nhạc này trong tiếng Pháp với tựa đề « Je suis à toi » (Em thuộc về Anh). Có lẽ cũng vì Patricia là người gốc Ý cho nên trong sự nghiệp ca hát, cô thường hay chọn phóng tác những lời ca gần gũi nhất với mình. Còn trong tiếng Việt, bản nhạc từng được nữ ca sĩ Julie đặt thêm lời thành giai điệu « Trọn đời bên anh » chủ yếu dựa vào phiên bản tiếng Pháp hơn là nguyên tác tiếngÝ. Dù gì đi nữa, hiếm khi nào một giai điệu tiếng Ý lại thành công rực rỡ như vậy, trong nửa thế kỷ gần đây, số bài hát đoạt cả hai giải thưởng này, có thể được đếm trên đầu ngón tay.

Tên tuổi của Chris de Burgh gắn liền với bản nhạc nổi tiếng « The Lady in Red », phát hành lần đầu tiên cách đây bốn thập niên (1986). Ngay cả những nhà phê bình không thích các bản nhạc slow rock cũng phải công nhận rằng Chris de Burgh đã sáng tác một giai điệu sau bao năm vẫn chưa lỗi thời, cho dù các trào lưu âm nhạc không ngừng thay đổi. Vào thời điểm Chris de Burgh cho ra mắt nhạc phẩm « The Lady in Red »(Giai nhân áo đỏ), tác giả này đã có hơn 10 năm tay nghề. Sinh ra ở Achentina nhưng lớn lên ở Ai Len, Chris de Burgh không nối nghiệp thân phụ là một viên chức ngoại giao, mà lại chọn nghề thu âm sáng tác. Ông đã phát hành album đầu tiên của mình vào năm 1974, đạt vị trí quán quân bảng xếp hạng thị trường Ai Len với đĩa đơn « A Spaceman came travelling » vào năm 1975. Tưởng chừng như thành công sự nghiệp sẽ đến sớm hơn, nhưng rốt cuộc những album phòng thu tiếp theo lại không tạo ra được nhiều dấu ấn. Tuy nhiên, Chris vẫn giữ được hợp đồng thu âm và bắt đầu gây được tiếng vang vào năm 1982, lọt vào bản xếp hạng Top 40, trên thị trường Hoa Kỳ với đĩa đơn « Don't pay the ferryman ». Mãi đến năm 1986, khi Chris de Burgh phát hành album phòng thu thứ tám « The Lady in Red », ông mới bất ngờ lập kỷ lục số bán, một sự thành công mà dường như không gì có thể ngăn cản nổi, bài hát giành lấy hạng đầu tại 25 quốc gia, kể cả thị trường Anh và Ai Len, đồng thời vươn lên hạng ba tại Hoa Kỳ. Bản thân Chris de Burgh cũng không ngờ rằng bài hát lại thành công vang dội đến như vậy. Trong nhiều cuộc phỏng vấn sau này, Chris de Burgh cho biết « Giai nhân áo đỏ » không phải là bài hát hay nhất trên album « Into the Light » cho nên suýt nữa không được chọn làm đĩa đơn để quảng bá cho album này. Theo lời kể của chính tác giả, bài hát này đã được ấp ủ trong một thời gian dài. Ông bắt đầu sáng tác giai điệu như một cách để làm lành với vợ mình sau vài lần cãi vã. Do vậy, trong bài hát mới có câu « I'll never forget the way you look tonight » Anh sẽ không bao giờ quên, dáng em bừng sáng trong đêm. Ban đầu, bản nhạc này đáng lẽ ra được đặt tựa là « The way you look tonight », nhưng trước đó đã có một bài hát nổi tiếng cùng tên, từng đoạt giải Oscar dành cho nhạc phim do FredAstaire thu âm vào năm1936, rồi đến phiên Frank Sinatra ghi âm một phiên bản khác năm 1964 với dàn nhạc của Nelson Riddle. Trong bộ phim truyền hình Anh « This is your life », Chris de Burgh nói rằng bài hát gợi hứng từ lần đầu tiên anh thấy vợ anh là Diane trong một bộ áo đầy nét quyến rũ màu đỏ, nhưng theo Chris bài hát không chỉ nói về môt kỷ niệm cá nhân thuở ban đầu, mà còn là gìn giữ và trân qúy tình cảm của người bạn đời. Giai nhân áo đỏ « The Lady In Red » là một bản hit đình đám trên toàn cầu, được khai thác nhiều qua phim ảnh, nên trở thành một phần không thể thiếu trong dòng văn hóa phổ thông. Tuy nhiên, bài hát cũng đã gây ra nhiều ý kiến trái chiều. Theo khảo sát của tờ báo The Observer, « The Lady in Red » từng lọt vào danh sách 10 bài hát phản cảm, nếu không nói là dễ ghét nhất những năm 1980, chủ yếu cũng vì trong mắt các nhà phê bình nhạc rock : « The Lady in Red » có những lời lẽ hơi sến, thậm chí ủy mị. Ngoài đời thực, hôn nhân giữa Chris và Diane đã gặp nhiều sóng gió vào giữa những năm 1990 khi tác giả tiết lộ rằng ông đã từng có quan hệ ngoại tình. Nhưng có lẽ vì không muốn làm khổ gia đình, cho nên Chris và Diane vẫn quyết định ở lại bên nhau. Cho dù nhiều nhà phê bình nghĩ rằng bài hát này thật ủy mị, nhưng thực ra nội dung bản nhạc nói về tâm trạng của một người đàn ông khi nhận ra rằng mình nên quan tâm nhiều hơn đến người bạn đời. Có lẽ cũng vì thế « Giai nhân áo đỏ » được phát thường xuyên trong các lễ cưới và nhiều cặp tình nhân xem « The Lady in Red » trước sau gì vẫn là : khúc nhân duyên muôn đời, giai điệu của lứa đôi

Trong nhiều thập niên liền, bài hát "Anata" của Akiko Kosaka đã được phổ biến rộng rãi trong các chương trình truyền hình, cũng như tại các quán karaoke ở Nhật Bản. Những người thích hát bài này thường có giọng ca ngọt ngào, trong sáng. Sinh trưởng tại thành phố Nishinomiya, tỉnh Hyogo, Akiko Kosaka xuất thân từ một gia đình nghệ sĩ. Thân phụ cô là nhạc trưởng Tsutomu Kosaka, chuyên sáng tác và điều khiển dàn nhạc hòa tấu ở vùng Kansai. Từ thuở thiếu thời, Akiko học đàn piano với bố, rồi sau đó tốt nghiệp Nhạc viện thành phố Osaka. Vào năm 1973, khi mới 16 tuổi, Akiko đã tham gia Liên hoan âm nhạc Yamaha với một bài hát do chính cô soạn nhạc và viết lời. Mang tựa đề "Anata", bài hát kể lại câu chuyện buồn của một cô gái trẻ sắp thành hôn, nhưng không may người yêu đột ngột qua đời. Một mình, cô gái hình dung trong tâm trí về hạnh phúc cuộc sống lứa đôi, giấc mộng xây tổ ấm tan vỡ khi mọi chuyện đã hết rồi, không còn ngày hôn phối. Trong bản nhạc, Akiko hát câu cuối cùng một cách xúc động, bồi hồi : "Anata ga ite hoshii" (ước gì người còn ở bên ta). Lối diễn đạt trầm buồn, sâu lắng ấy đã chinh phục hàng triệu con tim người hâm mộ khi bản ghi âm ra đời. Tuy chưa đến tuổi trưởng thành, nhưng Akiko đã giành được Giải thưởng Lớn của liên hoan âm nhạc Yamaha. Khi được phát hành cuối năm 1973 dưới dạng đĩa đơn, bài hát này đã đứng đầu bảng xếp hạng trong 7 tuần liên tục và bán được hơn hai triệu bản, chỉ trong vài tháng. Nhờ giải thưởng này, lần đầu tiên, hai cha con Akiko cùng nhau biểu diễn trong show truyền hình của đài NHK (Kohaku Uta Gassen). Trong sự kiện này, Akiko hát live trên sân khấu, còn thân phụ Tsutomu Kosaka là nhạc trưởng điều khiển dàn nhạc giao hưởng. Thành danh kể từ năm 1974, Akiko trong vòng một thập niên sau đó đã phát hành 6 album và 12 đĩa đơn, trong đó có nhiều bản nhạc ăn khách như June Bride, Happy Now hay là Again với nhóm Full Moon. Sau khi lập gia đình và sinh con, cô ít còn xuất hiện dưới ánh đèn sân khấu, mở lớp đào tạo thanh nhạc, chuyển sang sáng tác nhạc cho ngành giải trí kể cả nhạc cho trò chơi điện tử, các show truyền hình hay các bộ phim hoạt hoạ. Trong vòng hai thập niên sau đó, tính từ năm 1993 trở đi, Akiko là nhà soạn nhạc nền cho nhiều bộ phim hoạt hình nhiều tập nổi tiếng như "Sally, phù thủy tí hon" cũng như ca khúc chủ đề cho "Sailor Moon, thủy thủ mặt trăng", thành công của loạt phim này cho ra đời một phiên bản nhạc kịch trên sân khấu. Riêng nhạc phẩm Anata, hơn ba thập niên sau ngày thành công tại liên hoan Yamaha, giai điệu này ăn khách một lần nữa khi được tái bản năm 2006 trên album phòng thu "Pianish". Ca khúc "Anata, I wish You were here" giành lấy hạng nhất trong hạng mục New Age trên thị trường Hà Lan và hạng 5 trên bản xếp hạng thị trường nhạc trực tuyến châu Âu. Giai điệu Anata từng được nhiều nghệ sĩ Nhật Bản ghi âm lại. Trong số các bản cover nổi tiếng có Saori Minami, Ayumi Ishida, Seiko Matsuda hay Hiromi Iwasaki và được khai thác nhiều lần trong phim quảng cáo ... Tại châu Á, bài hát này cũng thành công qua bản ghi âm của diva Đài Loan Đặng Lệ Quân. Bài hát cũng từng được tác giả Phạm Duy đặt thêm lời Việt thành nhạc phẩm "Căn nhà xinh", qua phần ghi âm của các danh ca Thanh Lan, Ngọc Lan hay Khánh Hà. Xây một căn gác nhỏ, không cần gì trong đó, khi lửa chưa tàn tro, bên cửa sổ ấm nồng, chùm hoa hồng tươi thắm, trong góc vườn hoa đỏ .... Chú chó con nho nhỏ, chơi đùa ở ngoài sân, bỏ mình ta trong mộng, thơ thân duới gốc cây, ước gì người còn đấy, trăng khuyết mong tròn đầy.

Có những giai điệu nghe rất quen thuộc, nhưng ta không còn nhớ tác giả là ai ? Nhạc phẩm "More" nằm trong số này, bài hát đã được hàng trăm nghệ sĩ ghi âm lại, qua nhiều phiên bản phóng tác trong hơn mười ngôn ngữ. Trong tiếng Việt, bản nhạc này từng được đặt lời thành nhạc phẩm "Cuộc tình thoáng bay". Trong nguyên tác, giai điệu này được hai nhạc sĩ người Ý Riziero Ortolani và Nino Oliviero sáng tác cho bộ phim "Mondo Cane", phát hành vào năm 1962. Do là nhạc phim, cho nên ban đầu, khúc nhạc này là một bản hoà tấu không lời. Trên album nhạc phim, đây là giai điệu bài ghi âm số 9, có tựa đề "Modelle in Blu" (Người mẫu áo xanh). Khi bộ phim được cho ra mắt khán giả, giai điệu này mới được tác giả Marcello Ciorciolini bổ sung thêm lời tiếng Ý với tựa đề "Ti guarderò nel cuore" có nghĩa là nhìn vào trong tim. Nhà soạn nhạc Riziero Ortolani lúc bấy giờ mới nhờ vợ ông là nữ ca sĩ Katyna Ranieri ghi âm lần đầu tiên bài này trong tiếng Ý, phát hành trên đĩa đơn vào tháng 05/1962 và sau đó được tái bản vào năm 1965 trên đĩa nhạc "Donna di fiori / Ti guarderò nel cuore". Mãi đến một năm sau vào tháng 04/1963, giai điệu "Ti guarderò nel cuore" mới được phát hành trên thị trường quốc tế với phiên bản tiếng Anh "More" do Norman Newell viết lời. Steve Lawrence là người đầu tiên ghi âm bài này trong tiếng Anh, và vài tháng sau đến phiên Vic Dana và Al Martino. Nhờ được nhiều nghệ sĩ thu âm lại, nhạc phẩm More ngày càng trở nên quen thuộc với công chúng, để rồi sau đó thực sự trở thành một bài hát kinh điển. Vào năm 1964, nhạc phẩm "More" đoạt giải Grammy dành cho bài hát hay nhất trong năm và sau đó được đề cử giải Oscar trong hạng mục ca khúc nhạc phim hay nhất. Trong buôi lễ trao giải Oscar cùng năm, bài hát này đã được nghệ sĩ gốc Katyna Ranieri, vợ của nhà soạn nhạc Ortolani trình bày. Cho đến bây giờ, Katyna Ranieri vẫn là ca sĩ người Ý duy nhất được mời biểu diễn trực tiếp trên sân khấu Oscar. Với thời gian, "More" đã trở thành một trong những bản nhạc phim được đánh giá cao, có tầm ảnh hưởng lớn nhờ khúc nhạc hoà tấu này được sử dung nhiều lần trong phim ảnh và quảng cáo. Trong số các phiên bản ghi âm nổi tiếng với các giọng ca tên tuổi, có phiên bản swing của Frank Sinatra với phần nhạc đệm của Count Basie và do Quincy Jones hoà âm trên album "It might as well be swing" (1964). Phiên bản cool jazz được Nat King Cole trên album "Love" (1965). Andy Williams cũng đã phát hành phiên bản của mình trên album chuyên đề bao gồm các bản nhạc phim từng đoạt giải Oscar ..... Nhiều nghệ sĩ khác cũng thành công không kém khi thu lại bản nhạc này như Tom Jones, Doris Day hay Connie Francis ..... Line Renaud hát bài này trong tiếng Pháp, Caterina Valente trình bày phiên bản song ngữ Anh-Ý, Simone de Oliveira ghi âm bằng tiếng Bồ Đào Nha ...... Riêng trong tiếng Việt, nhạc phẩm "More/ Ti guarderò nel cuore" được tác giả Kỳ Phát chuyển sang lời Việt thành nhạc phẩm "Cuộc tình thoáng bay" và từng được nhiều nghệ sĩ ghi âm lại, trong đó có bản ghi âm của Vy Vân trước năm 1975, rồi sau đó có Kiều Nga, Ngọc Huệ, Thúy Vi; Lâm Thúy Vân ..... Bản phóng tác lời Việt khác han với bản nguyên tác tiếng Ý : Tim này, khi nhìn tận đáy, lắng nghe nhịp đập từng giây, thế nào rồi cũng sẽ thấy, tên người được vẽ bằng mây. Trong tim, mối tình đang viết, chợt đến như chuyện thần tiên, ẩn hiện màu tranh sóng biển, yêu từ lúc nào không biết. Hãy nhìn tận đáy tim sâu, rồi người bỗng dưng hiểu thấu, chẳng cần niệm câu thần chú, tình đến như có phép màu. Gió bay lời nói nhạt phai, chỉ còn dư âm đọng lại, muôn nốt nhạc còn rơi mãi, trong tim quyến rũ ngân dài ....

« Plus Haut » (Cao hơn) là tựa đề tuyển tập các ca khúc chọn lọc của France Gall được phát hành mùa thu năm nay. Sáu năm sau ngày qua đời, France Gall đã để lại một khoảng trống đáng kể, vì sau cô ít có nghệ sĩ nào có thể diễn đạt thật có hồn các sáng tác của Michel Berger. Tuyển tập này được phát hành vào dịp kỷ niệm ngày hai nghệ sĩ này gặp nhau năm 1974, tức cách đây vừa đúng 50 năm. Được trình làng vào trung tuần tháng 11/2024, tuyển tập chọn lọc gồm hai ấn phẩm. Phiên bản phổ thông gồm 18 bản nhạc ghi âm trong giai đoạn từ năm 1974 đến 1996. Phiên bản cao cấp (deluxe) là một bộ đĩa gồm tổng cộng 57 bài hát, ngoài những bản nhạc kinh điển, còn có vài bài song ca trên sân khấu với các nghệ sĩ như Johnny Hallyday, Michel Berger hay Daniel Balavoine, thời nam ca sĩ ghi âm nhạc phẩm « S.o.s d'un terien en détresse » (Lời kêu cứu của kẻ tuyệt vọng khốn cùng) cho vở nhạc kịch Starmania.Giới hâm mộ có thể vui mừng, vì trên tuyển tập (best of) lần này, có một bài hát chưa từng được phát hành trên băng đĩa. Đó là nhạc phẩm « La Prisonnière » (Tù nhân) được ghi âm lần đầu tiên vào năm 1974, trong khuôn khổ dự án thực hiện một vở nhạc kịch mang tựa đề Angelina Dumas do Michel Berger sáng tác. Dự án này rốt cuộc sẽ không bao giờ được hoàn thành. Một số tác phẩm ghi âm vào thời ấy, mãi đến bây giờ mới được tiết lộ cho công chúng, chẳng hạn như các nhạc phẩm « Mais aime-la, À votre avis hay La Prisonnière » …..Năm 1974 là cột mốc quan trọng cho hai nghệ sĩ France Gall và Michel Berger. Hai người thành hôn một năm sau ngày gặp nhau, mở ra một quan hệ hợp tác bền vững, dài lâu trong gần hai thập niên liền. Không phải ngẫu nhiên mà bài hát đầu tiên Michel Berger viết cho vợ mang tựa đề là « La Déclaration » (Lời tỏ tình). Còn album đầu tiên đánh dấu sự hợp tác giữa cặp vợ chồng nghệ sĩ này bao gồm nhiều bài hát ăn khách, trong đó có các nhạc phẩm như « Calypso » hay « Samba Mambo ». Nhưng tuyển tập vừa được phát hành lại không có những bài hát do France Gall ghi âm trong giai đoạn đầu tiên trong sự nghiệp của mình.Có thể nói năm 1974 mở ra giai đoạn sự nghiệp thứ nhì của nữ danh ca với hàng loạt thành công vang dội và nhiều kỷ lục mới. Thật vậy, sự nghiệp của France Gall bắt đầu rất sớm, vào năm 1964, tức từ một thập niên trước đó. Khá nhiều tác giả trong đó có Serge Gainsbourg đã soạn nhạc cho cô, giai đoạn huy hoàng là vào năm 1965, khi France Gall đoạt giải nhất cuộc thi hát truyền hình châu Âu Eurovision với nhạc phẩm « Poupée de cire, poupée de son » (tựa đề bản phóng tác tiếng Việt là Búp bê không tình yêu).Đầu thập niên 1960 dánh đấu sự trỗi dậy của làn sóng mới bossa nova, nhưng do France Gall đang theo phong trào nhạc trẻ (yéyé), cho nên những bản ghi âm của cô không hề có một chút ảnh hưởng nào của dòng nhạc La Tinh hoặc âm nhạc Brazil. Bản nhạc « Samba Mambo » phần nào gợi hứng từ nhạc phẩm « Le Jazz et là Java » của Claude Nougaro, ít ra trong lối dùng ca từ. Trong bài hát của Claude Nougaro, điệu java nhường chỗ lại cho nhạc jazz. Còn nơi Michel Berger, nhịp mambo lại thay thế cho điệu samba.Tuy không được chọn làm ca khúc chủ đạo để quảng bá cho album, bài hát Samba Mambo chỉ được phát hành trên mặt B của đĩa nhựa 45 vòng, nhưng rốt cuộc nhạc phẩm này lại được khai thác nhiều trên các làn sóng phát thanh và được công chúng Pháp hưởng ứng nhiệt tình, nhiều hơn cả mặt A là bản nhạc « Comment lui dire ».Sau khi thành công, vũ khúc tình nồng Samba Mamno sẽ có thêm lời tiếng Anh, tiếng Hung và Phần Lan. Còn trong tiếng Việt, bài này có khá nhiều lời khác nhau, ca từ hay tựa đề đôi khi có khác biệt đôi chút Vũ khúc Samba hay Tình nồng Mambo, nhưng vẫn giữ nguyên hai từ khóa quan trọng như trong bản nguyên tác. Có rất nhiều nghệ sĩ ghi âm lại bài này như Thanh Lan, Ngọc Lan, Julie Quang, Don Hồ và gần đây hơn nữa là lời Việt của Ngọc Phú.Album đầu tiên hợp tác với Michel Berger trước khi hai nghệ sĩ này thành hôn với nhau lại là album phòng thu thứ 8 của France Gall. Tác giả Michel Berger đã giúp France Gall thay đổi hoàn toàn hình ảnh và phong cách, trở thành một nghệ sĩ thực thụ, với một thế giới âm nhạc riêng không thể nhầm lẫn với ai khác. Giống như cách dùng phản ngữ : câu chữ thể hiện những điều khác hẳn với suy nghĩ, bản ghi âm của France Gall không phải là mambo mà cũng chẳng là samba, cho dù không nói thẳng ra nhưng rốt cuộc lại có nét quyến rũ kỳ lạ nhờ nhịp điệu cha cha.

Trong số những tình khúc nổi tiếng, có từ thập niên 1980, nhạc phẩm « Boulevard » có lẽ thuộc vào hàng giai điệu khó quên nhất. Ngược lại, đa số người hâm mộ thường hay hát lại bài này nhưng ít khi nào biết tác giả là ai. Bản nhạc « Boulevard » từng được phóng tác nhiều lần sang tiếng Việt, phiên bản quen thuộc nhất là của nữ danh ca Ngọc Lan với tựa đề « Con đường tình ». Làng nhạc chuyên nghiệp dùng thuật ngữ « one-hit wonder » (chỉ một lần nổi tiếng) để chỉ những nghệ sĩ có tên tuổi gắn liền với một bài hát ăn khách duy nhất. Đôi khi, người nghệ sĩ lập được thành tích chỉ có một lần tại một nước cụ thể, nhưng lại khá thành công ở nhiều quốc gia khác. Ca sĩ kiêm tác giả Dan Byrd thuộc vào diện này, tên tuổi của anh luôn đi đôi với nhạc phẩm « Boulevard », rất thịnh hành ở châu Á, nhưng tên tuổi của anh vẫn còn xa lạ đối với công chúng Âu – Mỹ.Thật khó mà tìm thấy các thông tin trên mạng về Dan Byrd, cho dù ca sĩ kiêm tác giả này đã ra đi quá sớm vì bạo bệnh. Anh qua đời vào năm 2005, chỉ mới 52 tuổi. Sinh ngày 25/05/1953 tại Anvers, miền bắc nước Bỉ, Dan Byrd tên thật là Daniel Fogel. Thời sinh viên anh là ca sĩ chính của nhóm nhạc nghiệp dư « Hassidic Blues Orchestra ».Theo lời kể của ông William Lip, một trong những thành viên của nhóm, thì ban nhạc chuyên đi biểu diễn trong các quán bar hay các liên hoan địa phương tại Bỉ vào những ngày cuối tuần. Hầu hết các thành viên ban nhạc thời bấy giờ đều là sinh viên. Sau khi tốt nghiệp họ hành nghề kỹ sư, nha sĩ hay doanh nhân. Bản thân ông William Lip trở thành bác sĩ nhi khoa tại Bỉ (Anvers và Bruxelles) và tiếp tục soạn nhạc ghi âm, đăng trên Youtube những bài hát chủ yếu để giải trí. Riêng nam ca sĩ Dan Byrd mới chọn con đường sáng tác biểu diễn chuyên nghiệp, để rồi trở nên nổi tiếng vùng Viễn Đông, nhất là tại các nước châu Á.Trong hệ ngôn ngữ Đức, Fogel có nghĩa là cánh chim và có nhiều cách viết khác nhau đôi chút là Vogel hay De Vogel tùy theo các vùng miền sử dụng tiếng Đức hay tiếng Hà Lan. Chuyển sang tiếng Pháp, chữ Fogel/Vogel có tên họ tương đương là Loiseau, còn trong tiếng Anh, danh hiệu này trở thành Bird hoặc Byrd, đó là lý do vì sao khi vào nghề Daniel Fogel đã chọn nghệ danh là Dan Byrd.Một cách chính thức, sự nghiệp ca hát của Dan Byrd kéo dài trong 5 năm, từ năm 1982 đến 1987, thời anh có ký hợp đồng ghi âm với các hãng đĩa chuyên nghiệp. Album phòng thu đầu tiên của anh (phát hành vào năm 1982) với tựa đề « Stay » được hãng đĩa Polydor phân phối ngoài châu Âu tại Singapore, Malaysia, Hồng Kông và sau đó là tại Nhật Bản.Sau đó, anh cho ra mắt thêm hai album nữa là « From heart to heart » năm 1985 và « Jennifer » vào năm 1987 với hãng đĩa Ace Records. Trong 5 năm sự nghiệp, Dan Byrd đã khá thành công tại châu Á với các sáng tác của mình như « Summer Nights, Stay, BeBop, Sayonara », nhưng nhạc phẩm « Boulevard » mới thực sự là bài hát được nghe nhiều nhất và được hầu như mọi người hâm mộ luôn nhắc tên. Sau khi Daniel Fogel/ Dan Byrd qua đời vào năm 2005, những bài hát này và đặc biệt là « Boulevard » lại càng thành công ở châu Á, hàng loạt phiên bản cover trên YouTube giúp cho giai điệu gây thêm nhiều tiếng vang trên thế giới.« Boulevard » nổi lên như một bản ballad nhẹ nhàng sâu lắng, chiếm trọn trái tim người nghe với giai điệu u sầu. Nội dung bài hát nói về sự mất mát trong tình yêu và những đau thương trong cuộc đời. Sức hấp dẫn của giai điệu tạo thêm chiều sâu trong cảm xúc, chủ đề phổ quát khiến người nghe dù ở thời nào cũng dễ bắt gặp mình. Bài hát có lối phối khí đơn giản nhưng lôi cuốn, cùng phần diễn đạt mộc mạc chân thành của Dan Byrd giúp cho bản « Boulevard » chinh phục thêm nhiều thính giả.Được khá nhiều nghệ sĩ cover lại trong nhiều năm qua, bài hát đã trở thành một tác phẩm kinh điển theo đúng nghĩa của từ. Nổi tiếng là bản nhạc duy nhất này làm nên tên tuổi của Dan Byrd, « Boulevard » tiếp tục gây thêm tiếng vang thời nay, khi thế hệ trẻ bây giờ mới khám phá nhạc phẩm. Cho dù không có nhiều thông tin về sự nghiệp của Dan Byrd từ năm 1987 cho tới ngày anh qua đời, « Boulevard » trở thành một trong những giai điệu đáng ghi nhớ nhất của thập niên 1980.Khi được phóng tác sang tiếng Việt, giai điệu « Boulevard » có nhiều lời khác nhau. Lời đầu tiên với tựa đề là « Con đường tình » do nữ danh ca Ngọc Lan tự đặt lời và ghi âm. Lời thứ nhì là nhạc phẩm « Con tim buồn » của tác giả Nhật Ngân, do Tuấn Ngọc trình bày. Lời thứ ba dựa theo hình tượng của Boulevard là « Đại lộ tình yêu », do Khúc Lan chuyển ngữ và Don Hồ ghi âm. Bản phóng tác thứ tư « Con đường ta chia tay » là của tác giả Nguyễn Hoàng Đô.Tuy không có duyên với ánh đèn sân khấu quê nhà lúc sinh thời, nhưng nam ca sĩ kiêm tác giả Dan Byrd vẫn để lại cho đời một khúc nhạc u sầu tuyệt diệu, một thoáng tâm hồn lắng sâu trong giai điệu !

Thành danh tại Pháp trong gần bốn thập niên qua trong cả ba lãnh vực ca nhac, thời trang và điện ảnh, Vanessa Paradis là một gương mặt quen thuộc với công chúng, do cô vào nghề từ khi còn nhỏ. Mọi chuyện thực sự bắt đầu vào mùa hè năm 1987, Vanessa lúc ấy mới 14 tuổi, lập kỷ lục đầu tiên nhờ nhạc phẩm « Joe le taxi » với hơn ba triệu bản được bán trên toàn cầu. Sau khi giành lấy hạng đầu thị trường châu Âu và Canada, hạng ba tại vương quốc Anh, nhạc phẩm « Joe le taxi » còn giành lấy ngôi vị quán quân bảng xếp hạng thị trường Pháp trong vòng 11 tuần lễ liên tục. Giai điệu « Joe le taxi » sau đó được ghi âm trong 8 thứ tiếng kể cả tiếng Hoa. Còn trong tiếng Việt, bài này có hai lời khác nhau. Lời đầu tiên do tác giả Nhật Ngân phóng tác thành nhạc phẩm « Hãy đến với nhau » và được nhiều nghệ sĩ ghi âm lại, trong đó có Ngọc Lan, Ngọc Huệ, Vy Oanh hay Thùy Dung. Lời Việt thứ nhì do nữ danh ca Thanh Lan tự đặt lời và ghi âm. Thành công khá bất ngờ này vượt ngoài mong đợi của nhóm sản xuất. Cho dù gấp rút triệu mời vào phòng ghi âm hai nghệ sĩ nổi tiếng của Pháp lúc bấy giờ là nhà soạn nhạc Franck Langolff (chuyên sáng tác nhạc cho nam danh ca Renaud) và tác giả Étiennne Roda-Gil (nổi tiếng nhờ viết lời cho Claude François và Julien Clerc), nhưng quá trình thực hiện album đầu tay cho Vanessa Paradis bị chậm trễ, buộc phải lùi lại vài tháng.Mãi đến gần một năm sau ngày thành công của bài « Joe le taxi », album đầu tiên của Vanessa Paradis mang tựa đề « M&J » mới được tung ra thị trường Pháp và sau đó là trên khắp châu Âu vào mùa hè năm 1988. Thời điểm phát hành không có gì là ngẫu nhiên, vì khi được trình làng trong kỳ nghỉ hè, Vanessa lúc bấy giờ (mới 15 tuổi) còn đi học, có thể tham gia các show truyền hình, đảm bảo các đợt biểu diễn ở khắp nơi để quảng bá tốt hơn cho album này.Tựa đề « M&J » là chữ viết tắt của Marilyn Monroe và John F. Kennedy, nói lên mối tình lãng mạn đầy sóng gió giữa ngôi sao điện ảnh quốc tế và cố tổng thống Hoa Kỳ. Đây cũng là tựa đề bài hát ăn khách thứ nhì của Vanessa, nhóm sản xuất đã lấy tên ca khúc chủ đạo này để đặt tựa cho album. Chuyện tình « Marilyn & John » trở thành giai điệu ăn khách thứ nhì của Vanessa Paradis, thành công tại Pháp, Canada, Israel cũng như Nhật Bản, giúp cho album đầu tay của cô đạt mức đĩa bạch kim trên toàn châu Âu.Trả lời phỏng vấn báo chí, Vanesssa cho biết cô đã từng được nghe giai điệu (do Franck Langolff soạn nhạc) nhiều tháng trước khi bài hát này được đặt lời. Vì biết rằng, từ thời còn bé, Vanessa cực kỳ ngưỡng mộ ngôi sao màn bạc Marilyn Monroe, cho nên tác giả Étienne Roda-Gil đã chọn mối tình của « Marilyn và John » làm chủ đề bài hát.Trong mắt Vanessa, đó thực sự là một món quà tình cảm, và có lẽ cũng vì cảm thấy gần gũi với mình, cho nên Vanessa thích bài hát này hơn nhiều so với nhạc phẩm « Joe le taxi ». Trên tuyển tập chọn lọc phát hành vào năm 2009, Vanessa đã ghi âm lại một phiên bản acoustic của nhạc phẩm « Marilyn & John » với lối hòa âm rất mộc (theo phong cách của nghệ sĩ Albin de la Simone). Phiên bản này được phát hành dưới dạng đĩa đơn vào mùa xuân năm 2010, và ăn khách một lần nữa sau lần phát hành đầu tiên vào năm 1988, giúp cho bài hát này đạt đến mức hơn một triệu bản trên thị trường châu Âu.Sau khi thành công tại Pháp, « Marilyn & John » có thêm nhiều phiên bản trong nhiều ngôn ngữ khác. Ngoài tiếng Anh, Ba Lan hay tiếng Nga, còn có phiên bản cover tiếng Bồ Đào Nha với tựa đề « Passageiro do Meu Amor » của ca sĩ người Brazil, Angelica. Ca sĩ người Đài Loan, Diana Yang, cũng đã ghi âm lại bài này trong tiếng Hoa trên album « Love with Roses » (Tình muôn hoa hồng) của mình, phát hành vào năm 1993. Còn trong tiếng Việt, bài này từng được tác giả Lữ Liên phóng tác thành Chuyện tình « Marilyn & John » do ca sĩ Khánh Hà ghi âm.Trong giới yêu nhạc Pháp, những người tinh ý nhất nhận thấy rằng thời kỳ vàng son của nền điện ảnh Hollywood chính là sợi chỉ đỏ xuyên suốt album đầu tiên của Vanessa Paradis. Ngoài tình sử Marilyn và John, còn có bản nhạc « Maxou » nói về thần tượng người Mỹ James Dean trong bộ phim « East of Eden ». Còn nhạc phẩm « Joe le Taxi » có nhắc tới Yma Sumac, ca sĩ kiêm diễn viên người Peru và Xavier Cugat, nhạc sĩ nguời Tây Ban Nha. Điểm chung là cả hai nghệ sĩ này đều đã ghi âm nhiều bản nhạc phim, giúp phổ biến dòng văn hoá La Tinh ở kinh đô điện ảnh HollywoodThành công ngoạn mục của album đầu tay gồm nhạc phẩm « Joe le Taxi » và sau đó nữa là Chuyện tình « Marilyn &John » ... mở đường cho Vanessa hợp tác với Serge Gainsbourg trong làng nhạc, thành công trên màn ảnh lớn nhờ đóng phim « Noce Blanche », hợp tác với nhà tạo mốt Karl Lagerfeld để trở thành biểu tượng thời trang Chanel, dường như trong những thập niên sau đó không gì có thể cản chân Vanessa Paradis bước lên bục vinh quang, danh vọng toả sáng thành « cánh chim địa đàng ».

Vào đầu những năm 1980, sự nghiệp của Julio Iglesias bước vào thời kỳ huy hoàng, trên vòm trời ca nhạc quốc tế, ngôi sao Tây Ban Nha luôn toả sáng. Sau khi giành lấy hạng đầu thị trường Pháp vào năm1979 với album chủ đề "Vous les femmes", (còn có tên là "Pauvres Diables" phóng tác từ nhạc phẩm Pobre Diablo), Julio Iglesias nuôi tham vọng chinh phục thị trường Hoa Kỳ. Để đạt mục tiêu này, nhà sản xuất người Mỹ Richard Perry đã hội tụ một đội ngũ hùng hậu xung quanh nhóm sáng tác Albert Hammond. Thành danh vào những năm 1970 nhờ ghi âm các sáng tác của mình, Albert Hammond sau đó chuyển sang viết nhạc cho nhiều nghệ sĩ nổi tiếng khác, trong đó có Tina Turner, Diana Ross, Bonnie Tyler hay Céline Dion ..... Mot trong những đỉnh thành công của tác gia người Anh này là vào năm 1988, khi nhạc phẩm "One moment in Time" (do ông đồng sáng tác với John Bettis) lập kỷ lục số bán nhờ bản ghi âm để đời của Whitney Houston.Khi làm việc trên album tiếng Anh đầu tiên của Julio Iglesias, Albert Hammond đã tìm cách hoà quyện giọng ca crooner của Julio với nhiều tiếng hát khác, trong đó có Diana Ross, nhóm Beach Boys và đáng ngạc nhiên hơn nữa là Willie Nelson. Julio Iglesias cùng ghi âm với Willie Nelson bản song ca "To all the girls I've loved before" vào năm1984. Việc kết hợp một danh ca La Tinh trữ tình với một ca sĩ chuyên hát nhạc đồng quê (country) là do ngẫu nhiên tình cờ. Có lẽ cũng vì hai giọng hát này khác hẳn nhau, cho nên thoạt nghe, ý tưởng này có vẻ không ổn cho lắm, nếu không muốn nói là hơi kỳ quặc. Trên thực tế, bản song ca đã ra đời, theo đề nghi của Willie Nelson. Trả lời phỏng vấn nhà báo Tom Roland, tác giả quyển sách "The Billboard book of Number one Country hits" nói về các bản nhạc đồng quê số 1 bảng xếp hạng, Willie Nelson cho biết ông đã được nghe giọng ca của Julio Iglesias trên đài phát thanh nhân một chuyến viếng thăm bạn bè ở Luân Dôn. Vợ ông (bà Connie) thích chất giọng của Julio nên ngay lập tức đề nghị ông nên thu thanh với nghệ sĩ này.Thông qua nhà quản lý của hãng đĩa, Willie Nelson đã liên lạc được với Julio Iglesias. Lúc bấy giờ, Willie không nghĩ đến chuyện tiền bạc vì Julio vẫn chưa nổi tiếng ở Bắc Mỹ. Sau này, Willie mới biết rằng, vào cuối những năm 1970, Julio là một trong nghệ sĩ quốc tế rất ăn khách, bán được nhiều đĩa nhạc hơn bất kỳ ai trên thế giới vào thời bấy giờ, trước khi có hai hiện tuong nhạc pop là Madonna và Michael Jackson.Khi thực hiện album tiếng Anh "1100 Bel Air Place" cho Julio Iglesias, nhạc sĩ Albert Hammond đã chọn một số bài hát ông từng sáng tác trước đó. Mặc dù "To all the girls I've loved before" (Cho những người tôi yêu) thành công nhờ bản song ca của Julio Iglesias và Willie Nelson, nhưng giai điệu này (của hai tác giả Albert Hammond và Hal David) ban đầu lại được viết cho giọng ca vàng Frank Sinatra vào giữa những năm 1970. Thế nhưng, Frank Sinatra chê bài hát không hợp với mình, nên từ chối vào phòng thu. Rốt cuộc, Albert Hammond lại trở thành người đầu tiên ghi âm giai điệu này cho album thứ tư của mình mang tựa đề "99 miles from L.A", phát hành vào năm 1975.Theo lời kể của chính tác giả, bài này đã được ghi âm vài lần nhưng chưa bao giờ thành công, kể cả phiên bản của Bobby Vinton. Khi đến phiên Julio Iglesias và Willie Nelson, hai nghệ sĩ này đã làm việc với nhau tại phòng thu ở Austin Texas, và Julio Iglesias đã mang cuộn băng demo về lại Los Angeles, nơi ông tiếp tục trao dồi cách phát âm tiếng Anh, để hoàn chỉnh các bản thu thanh cuối cùng.Được phát hành vào mùa hè năm 1984, "To all the girls I loved before" (Cho những người tôi yêu) là ca khúc chính trích từ album tiếng Anh đầu tiên của Julio Iglesias. Nhờ album này, Julio thục hiện được giấc mơ chinh phục thị trường các nước Anh ngữ, sau khi giành lấy hạng đầu khối các nước nói tiếng Pháp, Bồ Đào Nha cũng như Tây Ban Nha.Sau khi giành lấy hạng 5 thị trường Hoa Kỳ, về hạng nhất trên bảng xếp hạng country, bản song ca được Hiệp hội Âm nhạc Đồng quê bình chọn làm đĩa nhạc hay nhất năm 1984. Bài này cũng được nhiều nghệ sĩ khác ghi âm lại như Shirley Bassey, Tom Jones hay Engelbert Humperdinck. Năm 2010, Alanis Morissette thu âm một phiên bản có tựa đề "To all the boys I've loved before" với sự góp mặt của Willie Nelson trong phần đệm đàn ghi ta.Trong tiếng Pháp, bài hát được biến tấu thành nhạc phẩm ''À toutes les filles'', do Didier Barbelivien và Félix Gray trình bày. Bài hát lập kỷ lục số bán với gần 1 triệu rưỡi bản, hạng nhất thi trường Pháp trong nhiều tuần liên tục, trở thành tình khúc mùa hè năm 1990. Còn trong tiếng Việt, bản song ca của Julio và Willie được phóng tác thành nhạc phẩm "Cho những người tôi yêu" do hai nam danh ca Tuấn Ngọc và Duy Quang cùng ghi âm.Giai điệu "To all the boys I've loved before" là chiếc chìa khoá mở ra giai đoạn thành công thứ nhì cho Julio Iglesias, sau khi chinh phục được hầu hết những thị trường quan trọng. Với hơn 200 triệu đĩa hát, 70 album ghi âm trong 14 thứ tiếng, Julio đương nhiên trở thành nghệ sĩ Tây Ban Nha ăn khách nhất mọi thời đại : Bài ca tặng những người tình, mùi hương lưu luyến bóng hình, ngày đăng quang lên tột đỉnh của ông hoàng dòng nhac La Tinh.

Trong làng nhạc pop quốc tế đầu những năm 1970, chỉ có vài giọng ca nam hát hay nhờ giọng gió mà không sợ bị đuối hơi. Ngoài Brian Wilson của nhóm Beach Boys, Smokey Robinson của nhóm The Miracles, còn phải kể đến Barry Gibb của nhóm Bee Gees. Nhưng gần một thập niên trước đó, từng có trường hợp của ca sĩ Frankie Valli. Nhạc phẩm"Can't take my eyes off You" là giai điệu ăn khách nhất trong giai đoạn hát solo của thành viên sáng lập nhóm The Four Seasons. Khác với giọng ngực, giọng gió thường có làn hơi mỏng hơn, giúp người hát có thể lên cao hơn nhưng âm thanh vẫn bay bổng, mượt mà trong từng câu chữ. Nhưng do thanh đới bị thu hẹp lại, giọng ca có thể bị mất tự nhiên trong những nốt cao vút, ngân dài. Điều này lại không xẩy ra với Frankie Valli. Trong bộ phim ca nhạc ''Jersey Boys'' của đạo điễn Mỹ Clint Eastwood, kể lại cuộc đời và sự nghiệp của nhóm The Four Seasons, từ thời còn nhỏ, Frankie Valli ngoài chất giọng thiên phú, còn có một làn hơi tuyệt vời. Nhờ vậy, khi hát những nốt cao nhất, giọng ca của Frankie Valli chẳng những không mỏng mà còn trở nên dũng mãnh.Giai điệu "Can't take my eyes off You" (tạm dịch Ánh mắt chưa lìa) được phát hành vào năm 1967, do hai nhạc sĩ Bob Crewe và Bob Gaudio đồng sáng tác, đương nhiên trở thành một trong những bản ghi âm thành công nhất của Frankie Valli, trong cả hai giai đoạn, thời anh đi hát một mình (My Eyes Adored You, 1975) hay đi hát chung với nhóm The Fours Seasons (Oh what a night, 1976), nhạc phẩm quen thuộc này từng được Claude François phóng tác sang tiếng Pháp thành nhạc phẩm ''Cette année là'' (Ngày này năm ấy) mà sau đó nhiều nghệ sĩ Pháp kể cả M.Pokora đều có ghi âm lại.Sự kiện một ca sĩ chính kiêm thành viên sáng lập ban nhạc có thể đi hát solo, song song với sự nghiệp biểu diễn của cả nhóm (mà vẫn không tạo ra nhiều mâu thuẫn nội bộ) là chuyện hiếm thấy trong làng nhạc quốc tế thời bấy giờ. Thay vì đối đầu, sự thành công riêng của Frankie Valli lại hỗ trợ cho ban nhạc, giúp cho nhóm này gặt hái thêm nhiều đĩa vàng, mở ra một thời kỳ huy hoàng.Trả lời phỏng vấn báo chí, nhạc sĩ Bob Gaudio và cũng là thành viên của nhóm The Four Seasons, cho biết đây là một trong những giai điệu khó nhất mà ông từng viết. Nhạc phẩm được sáng tác theo kiểu đo ni đóng giày, tận dụng quãng giọng đặc biệt và làn hơi khỏe khoắn của Frankie Valli, đi từ những nốt trầm lên những nốt cao nhất ở đoạn cuối cao trào. Về hình thức Bob Gaudio tìm cách dung hòa nhiều thể loại trong cùng một bài, do vậy sau này, giai điệu có thể được phóng tác dễ dàng sang bất cứ thể loại nào (pop, rock, disco, soul, blues, jazz ….) và khi nghe, ta vẫn có cảm tưởng bài hát đã được viết riêng cho thể loại nấy.Trong giới sáng tác nhạc, giai điệu "Can't Take My Eyes Off You" là một trường hợp điển hình về lối xây dựng cường độ, tạo thêm sức lôi cuốn hấp dẫn. Việc chuyển từ những câu hát mở đầu dịu dàng tha thiết sang điệp khúc nóng bỏng cuồng nhiệt. Nhà soạn nhạc đã dùng tiếng kèn đồng trong đoạn chuyển tiếp, giúp thu hẹp khoảng cách âm thanh cao độ, mà không bị chệch hướng, làm chậm đi nhịp điệu.Sau khi chinh phục thị trường quốc tế, "Can't take my eyes off you" trở thành một trong những bài hát được cover nhiều nhất mọi thời đại, trong 14 thứ tiếng khác nhau. Trong số các phiên bản phóng tác nổi tiếng có các nghệ sĩ hàng đầu như Diana Ross, The Temptations, Engelbert Humperdinck, Julio Iglesias hay Lauryn Hill (từng được đề cử giải Grammy nhờ phiên bản xuất sắc ghi âm vào năm 1998). Về phần mình, nam danh ca Andy Williams đã ghi âm bài này hai lần, hạng 5 thị trường Mỹ vào năm 1968, hạng 23 vào năm 2002. Trong số các bản phóng tác ăn khách khác, có phiên bản disco của nhóm Boystown Gang (hạng 4 năm 1982) và phiên bản pop điện tử của nhóm The Pet Shop Boys trong liên khúc với " Where the streets have no name " (hạng 4 năm 1991).Còn trong tiếng Việt, "Can't take my eyes off you" có hai lời khác nhau. Khác với phần ghi âm của nam ca sĩ Hồ Trung Dũng, phiên bản phóng tác đầu tiên giữ nguyên tựa đề và điệp khúc tiếng Anh, chỉ có lời mở đầu là bằng tiếng Việt, bài này do Nguyễn Thắng và Lương Tùng Quang trình bày. Lời thứ nhì là của tác giả Nguyễn Hoàng Đô, phóng tác thành nhạc phẩm ''Không thể rời xa nhau'' do các nghệ sĩ Quỳnh Dao, Hà Thanh cũng như Mạnh Tuấn đều có ghi âm.Hàng trăm phiên bản phóng tác vẫn chưa làm phai mờ lối diễn đạt của Frankie Valli. Nhờ giọng gió, giai điệu bài hát trở nên tươi sáng hơn. Nhiều nghệ sĩ trẻ những thế hệ sau này nối bước Frankie Valli trong cách dùng giọng gió mà vẫn không lệch nhịp, không bị đuối hơi ở những nốt cao vút. Giọng gió hay nhờ cách nhả chữ nhẹ nhàng du dương rõ ràng mà vấn vương. Lối hát pha trộn một chút soul giúp cho Frankie Valli truyền đạt được nhiều cung bậc cảm xúc trong cùng một bài hát : Giây phút đầu gặp nhau , cứ ngỡ là chiêm bao. Mộng hóa thân người tình, như mơ đẹp quá đỗi. Nên cứ mỗi lần nhìn, mắt không rời được nổi.