
Hosted by RFI Tiếng Việt · VI
Góc vườn âm nhạc của RFI

"Inspirations of Life and Love" hiểu theo nghĩa Nguồn cảm hứng cho cuộc sống và tình yêu là tựa đề album phòng thu mới của Paul Anka, được phát hành hồi trung tuần tháng 02/2026. Song song với album này, còn có việc tái bản các tuyển tập song ca của ca sĩ người Canada với nhiều nghệ sĩ lừng danh quốc tế. Bao gồm tổng cộng 11 bài hát, album phòng thu vừa được phát hành xen kẻ vài sáng tác mới như "Freedom for You and Me" (Tự do cho chung ta) với các bản thu âm lại của những giai điệu nổi tiếng, từng được phát hành cách đây vài thập niên. Cả hai đĩa đơn trích từ album này, trước kia đều do Giọng ca Vàng Frank Sinatra trình bày, nay được Paul Anka ghi âm lại. Đó là trường hợp của hai nhạc phẩm "Anytime" (Bất cứ lúc nào) và "Let me try again" (Cho ta thêm một lần) từng được ghi âm vào năm 1989 trên album "Somebody loves You". Trong sự nghiệp âm nhạc kéo dài trong 7 thập niên, Paul Anka (84 tuổi) đã tạo dựng một sự nghiệp vững chắc, xuyên qua các trào lưu âm nhạc, dù thi hiếu người nghe có thay đổi. Sinh trưởng tại Ottawa (Canada) sau đó nhập tịch Mỹ, Paul Anka xuất thân từ môt gia đình có hai dòng máu : thân phụ người Syria, thân mẫu gốc Liban. Nhờ có năng khiếu, Paul Anka ghi âm đĩa hát đầu tay vào năm 14 tuổi, rồi thành danh ba năm sau đó trên thi trường quốc tế với nhạc phẩm "Diana", khi ông chỉ mới 17 tuổi. Kể từ năm 1957 trở đi, hầu như thập niên nào Paul Anka cũng có vài bài hát lọt vào bảng xếp hạng thi trường quốc tế. Tính đến nay, ông đã thu âm hơn 120 album trong nhiều ngôn ngữ khác nhau, bán được gần 80 triệu bản trên toàn thế giới. Nhiều thế hệ nghệ sĩ đã nhớ ơn ông, vì ngoài chất giọng mượt trầm, Paul Anka còn có tài soạn nhiều giai điệu hay, sáng tác những bản nhạc ăn khách. Thời còn trẻ, Paul Anka là một ngòi bút tài ba trong nhóm chuyên sáng tác cho Frank Sinatra trong nhóm Rat Pack (Dean Martin & Sammy Davis Jr). Thập niên 1980, Paul Anka đồng sáng tác hai nhạc phẩm với Michael Jackson. Sau khi lập kỷ lục số bán nhờ bản song ca giữa ông hoàng nhạc pop với Justin Timberlake, nay bài hát "Never felt so good" được đồng tác giả Paul Anka ghi âm lại với một bản phối khí mộc mạc, hoà âm nhe nhàng. Thập niên 1990, Paul Anka thành công rực rỡ nhờ các tuyển tập song ca với nhiều nghệ sĩ trứ danh như album "Amigos" bằng tiếng Tây Ban Nha hay là tuyển tập "Duets" với sự góp mặt của Céline Dion, Patti LaBelle, Tom Jones, Peter Cetera, ca sĩ chính của nhóm Chicago hay Barry Gibb thuộc ban tam ca Bee Gees. Ông cũng từng giữ vai trò nhà sản xuất, đảm nhiệm album đầu tay của ca sĩ đồng hương Michael Bublé, từng thể hiện lai ca khúc kinh điển "Put your head on my shoulder" của Paul Anka (lời tiếng Việt là "Tựa vai anh" qua phần ghi âm của Jo Marcel). Album phát hành gần đây của Paul Anka cũng là một cách để cho ông bày tỏ lòng qúy mến với những nghệ sĩ ông từng có dip gần gũi. Ngoài ông hoàng nhạc pop Michael Jackson, tên tuổi được nhắc đến nhiều trên album này vẫn là Frank Sinatra, được mệnh danh The Voice (Giọng ca Vàng). Khi phóng tác giai điệu tiếng Pháp "Comme d'habitude" của Claude François thành nhạc phẩm tiếng Anh "My Way", Paul Anka đã tặng bài hát nổi tiếng nhất cho bậc đàn anh. Bản thân Paul Anka cũng từng ghi âm nhiều lần sáng tác của mình, với giọng ca crooner của Sinatra chuyên hát nhạc trữ tình, cũng như với Julio Iglesias, ông hoàng dòng nhạc La Tinh. Trong mắt tác giả Paul Anka, nguồn cảm hứng cho cuộc sống và tình yêu trước sau vẫn là âm nhạc : một ngôn ngữ vô hình trong góc hồn thầm kín.

Với sự nghiệp kéo dài hơn bốn thập niên, Takao Horiuchi là một ca sĩ kiêm tác giả nổi tiếng nhờ những đóng góp cho nhạc pop và dòng nhạc enka (diễn ca) của Nhật Bản. Ông bắt đầu sự nghiệp solo vào giữa những năm 1970 và tính đến nay đã phát hành hơn 40 album đủ loại. Trong số những bài hát ăn khách của ông, có giai diệu "Sake yo" (Rượusầu) từng được chuyển sang lời Việt thành nhạc phẩm "Tình như giấc mộng". Sinh trưởng tại thành phố Osaka, Nhật Bản, Takao Horiuchi lớn lên trong một gia đình khiêm tốn. Bố mẹ ông làm chủ quán ăn Yamaya ở quận Abeno, Osaka. Trong quán ăn gia đình, ông thường được nghe trên đài phát thanh những bản nhạc enka kinh điển và những giai điệu tân nhạc phổ biến. Vào những năm 1960, khi còn là học sinh trung học, niềm đam mê âm nhạc của Takuo Horiuchi ngày càng sâu sắc hơn, ông tự học đàn ghi ta, trau dồi tài nghệ chơi đàn trong các buổi biểu diễn nghiệp dư. Giai đoạn này trùng khớp với sự trỗi dậy của phong trào tân nhạc Nhật Bản, đánh dấu sự kết hợp giữa các truyền thống nhạc dân gian và nhạc pop rock Tây Âu. Khi vào nghề sáng tác, ông lấy cảm hứng từ các nghệ sĩ Mỹ như Bob Dylan hay nhóm tam ca Peter, Paul & Mary. Đầu những năm 1970, Takao Horiuchi cùng với Shinji Tanimura đồng sáng lập ban nhạc rock Nhật Bản tên là Alice. Nhóm này thành công nhanh chóng nhờ kết hợp điệu folk với nhạc pop rock. Những bài hát nói về tuổi trẻ, hoà quyện giai điệu nhè nhẹ với lời ca dễ nghe. Thành công nhanh chóng cũng tạo ra bất đồng trong nhóm. Ban nhạc Alice tan rã sau 4 năm hoạt động, ông Takao Horiuchi khởi nghiệp hát solo qua việc phát hành album đầu tay (Kotoba ni Naranai Okurimono) vào mùa thu năm 1975, đánh dấu một sự chuyển hướng từ phong cách folk rock ban đầu của nhóm sang những bản nhạc trữ tình sâu lắng, hướng nhiều về nội tâm, làm nổi bật chât giọng giàu cảm xúc của ca sĩ trẻ tuổi. Takuo Horiuchi thực hiện bước đột phá vào năm 1977 với album thứ nhì, nhờ vậy củng cố vị thế của ông như một nghệ sĩ hàng đầu. Có thể nói là trong lớp tác giả chuyên kết hợp truyền thống nhạc trữ tình của Nhật Bản còn thường được gọi là "diễn ca" (enka) với ảnh hưởng Tây phương, Takuo Horiuchi là ngòi bút tài tình nhất, và có lẽ cũng vì thế ông được xem như là một trong những cánh chim đầu đàn của phong trào enka-pop, song song với đà phát triển của kayōkyoku (tiền thân của J-Pop). Vào năm 1990, ông đã giành được Giải thưởng bản ghi âm xuất sắc nhất Nhật Bản lần thứ 32 cho bài hát "Koiuta Tsuzuri" làm nổi bật tầm ảnh hưởng cũng như những đóng góp của tác giả này trong việc hiện đại hoá thể loại enka. Hai năm sau, ông hợp tác với nữ ca sĩ Kei Eun-sook (gốc Hàn Quốc) trên đĩa hát song ca "Angels of the City". Nổi tiếng trong làng nhạc phổ thông Nhật Bản nhờ chất giọng biểu cảm và tài nghệ sáng tác trong khá nhiều thể loại. Trong vòng hơn 40 năm sự nghiệp solo, Takao Horiuchi đã ghi âm gần 40 album và khoảng 70 đĩa đơn, nay được tập hợp lại trên bộ toàn tập "45th anniversary : All Single Collection". Trong số các sáng tác của Takuo Horiuchi, có nhiều bản nhạc từng được chuyển sang lời Việt. Nhạc phẩm "Sake yo" theo cách đặt lời của tác giả Phạm Duy là "Tình như giấc mộng" (Ngọc Hương), lời thứ nhì "Quán nửa khuya" là của nhạc sĩ Lê Hựu Hà (Nguyễn Đức & Tú Linh). Lời thứ ba "Anh xa em rồi" là của tác giả Khúc Lan (Lưu Bích). Giai điệu "Tokai no tenshi/tachi" (Angels of the City / Thiên thần đô thị) trở thành "Chớ nói lời biệt ly" của tác giả Huỳnh Nhật Tân qua phần ghi âm của Anh Tú và Ngoc Thúy). Nhạc phẩm "Koiuta tsuzuri" (Tình ca) được tác giả Quang Nhật đặt lời thành khúc ca "Tan vỡ", trong khi nhạc sĩ Phạm Duy phóng tác bài này thành nhạc phẩm "Cho cuộc tình tàn phai" (Don Hồ). Dòng nước mắt chứa vô vàn kỷ niệm Bình rượu sầu nhỏ từng giọt vào tim Như giấc mơ tan theo bọt sóng vỡ Muôn dư âm tìm giấc ngủ im lìm

Trong lãnh vực nhạc phim, tên tuổi của Alan Menken được gắn liền với các bộ phim hoạt hình nổi tiếng như Nàng tiên cá, Pocahontas hay Aladin và cây đèn thần… Nhờ sáng tác cho hãng phim Disney, mà Alan Menken đã nhận được nhiều giải thưởng lớn, bao gồm 8 giải Oscar, 7 Quả cầu vàng và 11 giải Grammy. Một trong những sáng tác hay nhất của ông vẫn là nhạc phẩm "Beauty and the Beast" (Giai nhân và Quái thú), nổi tiếng toàn cầu nhờ bản ghi âm của Céline Dion. Sinh trưởng tại Manhattan, New York (năm 1949) Alan Irwin Menken xuất thân từ một gia đình khá giả, thân phụ là nha sĩ, còn thân mẫu là một vũ công kiêm diễn viên nhạc kịch. Từ thời còn nhỏ, ông đã có nhiều năng khiếu nghệ thuật, bắt đầu sáng tác bằng đàn piano và sau đó là đàn ghi ta. Vào năm chín tuổi, ông đoạt giải nhất cuộc thi sáng tác dành cho thiếu niên tại bang New York, nhưng khi vào đại học, Alan lại chọn ngành y vì ông nghĩ rằng sau này, ông sẽ trở thành nha sĩ như bố mình. Cho đến khi, ông theo học khoá đào tạo sân khấu nhạc kịch BMI, dưới sự hướng dẫn của thầy Lehman Engel, thì lúc ấy ông chợt hiểu ra rằng, đây mới thực sự là điều ông hằng mong muốn. Sau khi tốt nghiệp, Alan Meken nuôi mộng trở thành một nghệ sĩ nổi tiếng trong ngành thu âm. Trong giai đoạn khởi nghiệp, ông làm đủ mọi công việc để kiếm sống : đệm đàn piano cho các vở múa ba lê, viết nhạc quảng cáo, luyện thanh cho các diễn viên tham gia các buổi casting hoặc phụ trách phần hoà âm, phối khí trong phòng thu âm. Mãi đến năm 1979, Alan Meken mới thành danh như một nhà soạn nhạc khi ông hợp tác với kịch tác gia Howard Ashman. Hai vở nhạc kịch mà cặp bài trùng này đã viết trong giai đoạn 1979 đến 1982, đã nhận được sự hưởng ứng từ giới phê bình lẫn công chúng. Trên đà thành công này, hai tác giả Alan Menken và Howard Ashman được hãng phim Walt Disney Studios mời biên soạn nhạc cho bộ phim hoạt hình "The Little Mermaid" (Nàng tiên cá) vào năm 1989. Hai bản nhạc chính của bộ phim này là "Under the sea" (Đáy sâu đại dương) và "Part of your world" (Trần gian mộng mơ) đều gặt hái nhiều thành công trong mắt giới phê bình, lập kỷ lục về mặt doanh thu. Bộ phim này đã mang về cho nhóm sáng tác hai giải Oscar đầu tiên năm 1989 : Bài hát xuất sắc và Nhạc phim hay nhất. Cặp bài trùng Alan Menken và Howard Ashman lặp lại thành tích này vài năm sau đó. Các bản nhạc viết cho bộ phim hoạt hình "Giai nhân và Quái thú" (Beauty and the Beast) lại đoạt hai giải Oscar dành cho ca khúc và nhạc phim hay nhất. Bài hát này sau đó được ghi âm với nhiều phiên bản khác nhau : Quan trọng nhất là bản song ca của Céline Dion và Peabo Bryson, rồi sau đó nữa là phiên bản của Ariana Grande với John Legend. Thành công này báo hiệu một kỷ nguyên mới được gọi là thời kỳ "phục hưng" Disney. Theo các nhà phê bình, giai đoạn này đã cho ra đời nhiều bản nhạc phim hay nhất, kể từ thời hoàng kim của hãng phim Disney (1937-1959). Đang trên đỉnh cao danh vọng, Howard Ashman lại đột ngột qua đời vì bạo bệnh vào năm 1991 trong khi nhóm sáng tác đang làm việc trên bộ phim tiếp theo là "Aladdin và cây đèn thần" (1992). Vào thời ấy, Ashman chỉ mới viết xong ba bài hát cho bộ phim, cho nên Alan Menken mới nhờ đến sự hợp tác của tác giả Tim Rice. Tuy đang có kế hoạch làm việc với Elton John cho bộ phim Vua sư tử (The Lion King), nhưng Tim Rice vẫn nhận lời để viết phần còn lại của các bài hát cho bộ phim "Aladin". Bộ phim này cũng đã giành được giải Oscar năm 1993 cho bài hát hay nhất : giai điệu "A whole new world", từng được phóng tác sang tiếng Việt thành nhạc phẩm "Nhìn ra thế gian". Sau ngày ra đi của Howard Ashman, Alan Menken soạn nhạc cho các bộ phim hoạt hình tiếp theo, bằng cách hợp tác với nhiều tác giả khác như trường hợp của Stephen Schwartz cho bộ phim Pocahontas (1995) hay David Zippel cho bộ phim Thần Hercules (1997). Thế hệ trẻ sau này khám phá lại các bản nhạc của Alan Menken qua các phiên bản điện ảnh quay với diễn viên thật. Céline Dion thu âm bài hát "How does a moment last forever" (tạm dịch là Khoảnh khắc thiên thu) cho phiên bản năm 2017, với sự tham gia của Emma Watson. Theo báo The Hollywood Reporter, tuy năm nay đã hơn 75 tuổi, nhưng Alan Menken vẫn chưa giải nghệ. Là một trong những nhạc sĩ sáng giá nhất trong ngành, ông chẳng những có sức sáng tạo sung mãn dồi dào mà còn tiếp tục viết những bài hát hay, có chiều sâu và chất lượng. Có lẽ cũng vì thế, ông trở thành một trong 22 thành viên của "câu lạc bộ" khép kín EGOT, tức là người từng đoạt 4 giải thưởng quan trọng nhất của làng giải trí Hoa Kỳ là Emmy (truyền hình), Grammy (âm nhạc), Oscar (điện ảnh) và Tony (kịch nghệ). Nổi tiếng nhờ soạn những giai điệu tràn đầy cảm xúc, tha thiết sâu lắng, lời hay ý đẹp nhờ khung nhạc với muôn vàn âm sắc, Alan Menken muốn gieo vào hồn người nghe những rung động sâu thẳm, thoáng nghe dịu dàng mà thấm vang réo rắt. Người xem đồng cảm với nhân vật trong phim, có thể nở nụ cười tươi, dù trái tim đang buồn héo hắt, để rồi cảm nhận khoảnh khắc vui sướng tột cùng đến nỗi phải rơi lệ !

Có những bản nhạc ban đầu được viết cho một giọng hát duy nhất, nhưng sau đó lại càng ăn khách khi được ghi âm dưới dạng song ca. Đó là trường hợp của nhạc phẩm "When you tell me that You love Me" (Khi anh nói lời yêu em). Ban nhạc này trong tiếng Việt từng được ca sĩ Thu Phương trình bày với Huy MC. Được phát hành vào mùa hè năm 1991, nhạc phẩm "When you tell me that You love Me" (Khi anh nói lời yêu em), do hai nhạc sĩ Albert Hammond và John Bettis sáng tác cho thần tượng nhạc pop người Mỹ Diana Ross. Trong thời kỳ huy hoàng sự nghiệp, Diana Ross từng nổi tiếng nhờ những bản song ca kinh điển : trong số này có các nhạc phẩm như "My mistake was to love you" song ca với Marvin Gaye, "All of you" ghi âm với Julio Iglesias và nhất là "Endless Love" hát cùng với Lionel Richie. Riêng nhạc phẩm "When you tell me that You love Me" (Khi anh nói lời yêu em) ban đầu được ghi âm như một bài đơn ca, trở thành một bài hát ăn khách trên thị trường quốc tế, trích từ album phòng thu thứ 19 của diva người Mỹ. Giai điệu này sau đó đã được nhiều nghệ sĩ ghi âm lại thành một bài song ca, chẳng hạn như bản ghi âm của Julio Iglesias với Dolly Parton vào năm 1994, khi Albert Hammond sản xuất các album phòng thu tiếng Anh cho ông hoàng dòng nhạc tình La Tinh (1100 Bel Air Place và Crazy). Để chinh phục thị trường châu Á, Julio sau đó ghi âm thêm một phiên bản thứ nhì vào năm 1998, với ca sĩ người Mỹ gốc Hồng Kông Coco Lee (Ly Van). Bản ghi âm này được phát hành trên đĩa đơn kèm theo video ca nhạc để quảng bá cho tuyển tập "My Life : The Greatest Hits" của Julio Iglesias, chủ yếu nhắm vào thị trường châu Á, trong khi bài song ca với Dolly Parton được dành riêng cho Canada và Hoa Kỳ. Trên thị trường quốc tế, cho dù đây không phải là giai điệu thành công nhất về mặt doanh thu, nhưng trong mắt Diana Ross, "Khi anh nói lời yêu em" vẫn được xem là một trong những bài hát gắn liền với tên tuổi của mình. Vào năm 2005, tức hơn một thập niên sau ngày phát hành bản ghi âm đầu tiên, Diana Ross nhận lời mời song ca với ban nhạc người Ai Len Westlife. Song ca hoặc đơn ca, "Khi anh nói lời yêu em" là một tình khúc nhạc pop trau chuốt bóng bẩy, giai điệu dễ nghe nên rất hợp với các chương trình phát thanh trên băng tầng FM. Bài hát bắt đầu như một bản ballad tinh tế dịu dàng, với tiếng đàn piano sâu lắng cho giọng hát thêm nhẹ nhàng. Khi đến đoạn giữa, bản phối trở nên hoành tráng hơn, hòa quyện bộ đàn dây giao hưởng với đàn ghi ta điện, đánh dấu sự chuyển đổi tông điệu dẫn vào phần điệp khúc đầy kịch tính cao trào, nhiều cảm xúc dạt dào. "Thầm gọi muôn ánh sao trời, cho ngày thêm dài vô tận, dù mai đổi dời thế giới, yêu anh vẫn chi một lời. Ôm nhau thật chặt bóng đêm, bờ vai ướt đẫm thấm mềm, mưa rơi ngàn sao dập tắt, tình che lửa nến êm đềm, chỉ cần nói lời yêu em, hoang tàn phút chốc dịu êm".

Cùng với Christophe và Adamo, Françoise Hardy có lẽ là giọng ca Pháp thành danh vào thập niên 1960, có khá nhiều bài hát được phóng tác sang nhiều ngôn ngữ. Theo nhà phê bình Éric James, một trong những giai điệu hay nhất của cô chính là nhạc phẩm "Le premier bonheur du jour", từng được ghi âm trong nhiều thứ tiếng. Trong tiếng Việt, bài này theo cái tài đặt lời của tác giả Phạm Duy trở thành nhạc phẩm "Hạnh phúc đầu ngày". Nhưng điều công chúng ít được biết đến là tác giả của bài hát này chính là nhạc sĩ Jean Renard. Trước khi lập kỷ lục số bán nhờ sáng tác "La Maritza" (Dòng sông tuổi nhỏ) cho Sylvie Vartan, "Avant de nous dire adieu" (Trước khi từ giã nhau) cho Jeane Manson, hay "Laisse moi t'aimer" (Yêu trọn đêm này) cho Mike Brant, nhạc sĩ Jean Renard vào nghề sáng tác đầu những năm 1960, nhờ vào sự dìu dắt của nhà sản xuất Rolf Marbot, lúc bấy giờ điều hành nhà xuất bản Méridian. Theo lời kể của chính tác giả, Jean Renard gặp Françoise Hardy qua lời giới thiệu của nhà xuất bản tại văn phòng của ông ở quận 8, Paris. Vào thời ấy, Françoise Hardy sắp đi lưu diễn cùng với nam danh ca Richard Anthony và cô cần thêm vài bài hát bổ sung cho chương trình biểu diễn của mình trên sân khấu. Khi làm việc với nhau, Jean Renard mới đàn cho Françoise Hardy nghe nhiều bản sáng tác mới của ông. Nhưng dường như, không có bài hát nào làm cho cô vừa ý. Đột nhiên, ông sực nhớ lại một giai điệu rất ngắn : bài hát "Le premier bonheur du jour" (Niềm hạnh phúc đầu tiên trong ngày) mà ông từng viết với tác giả Franck Gérald, nguyên là anh rể của Pierre Delanoë, người chuyên viết nhạc cho nam danh ca Joe Dassin. Khi nghe xong bài hát, Françoise Hardy hoàn toàn im lặng, nhìn tác giả mà chẳng nói gi. Jean Renard tưởng rằng cô không thích bài hát, nhưng thực ra cô rất xúc động, không nói nên lời. Nhe nhàng vương vấn, trầm mặc sâu lắng, giai điệu này sau đó được phát hành vào năm 1963, trên album thứ nhì của Françoise Hardy và được gắn liền với tên tuổi của thần tượng nhạc trẻ Pháp những năm 1960. Đối với Jean Renard, thành công của bài hát này cũng thực sự là một dip may, mở đường cho ông sáng tác sau này nhiều bài hát hay, nhất là khi trong giai đoạn khởi nghiệp, vẫn chưa có nhiều ca sĩ trẻ muốn hát những sáng tác của ông vào thời ấy. Được phát hành vào cuối năm 1963, trong cùng một năm với nhạc phẩm "Le temps de l'amour" (Mùa tinh yêu), giai điệu "Le premier bonheur du jour" (Hạnh phúc đầu ngày) trở thành một trong những bài hát quen thuộc với giới hâm mộ cũng như bài "Những nụ tinh xanh" (Tous les garçons et les filles), "Nụ hồng mong manh" (Mon amie la rose) hay là "Ánh sáng mặt trời" (Soleil). Không phải ngẫu nhiên, con trai của Françoise Hardy là Thomas Dutronc gần đây đã ghi âm lại bài này với Clara Luciani. Theo Thomas, nhạc phẩm "Hạnh phúc đầu ngày" vẫn là một trong những giai điệu yêu chuộng của mẹ anh, lúc sinh tiền. Một trong bản nhạc được cho là hay nhất của Françoise Hardy rốt cuộc lại là sáng tác cô đọng nhất trong bộ sưu tập của tác giả này, chỉ vỏn vẹn có một phút năm mươi giây. Nhưng hạnh phúc nào mà chẳng mong manh, tựa giọt sương mai đầu ngày, ngắn ngủi như cụm mây trời thoáng bay.

Trong số những bản tình ca Nhật Bản từng được phóng tác sang nhiều ngôn ngữ, nhạc phẩm Fantasy của Akira Fuse thuộc vào hàng nổi tiếng nhất. Trong tiếng Việt, giai điệu này có đến bốn lời khác nhau. Trong đó, quen thuộc nhất với giới yêu nhạc vẫn là Mộng tình Đêm mưa và Biển ru Niềm nhớ. Sinh trưởng ở Tokyo (1947), ca sĩ kiêm diễn viên Akira Fuse trở nên nổi tiếng nhờ những đóng góp quan trọng cho làng giải trí Nhật Bản kể từ giữa những năm 1960. Xuất thân từ một gia đình khiêm tốn nhưng có học thức, Akira Fuse sau đó không chọn ngành luật khoa hay sư phạm như những người anh trai, ông lại chọn con đường nghệ thuật biểu diễn sân khấu. Từ thời còn nhỏ, Akira Fuse đã có nhiều năng khiếu ca hát. Ông nhanh chóng trở thành một trong những giọng ca tiêu biểu của thời kỳ Showa, âm nhạc Nhật Bản phát triển mạnh trong giai đoạn hậu chiến, hòa quyện các yếu tố của thể loại diễn ca (enka), các khúc nhạc dân gian truyền thống với những ảnh hưởng nhạc pop Tây phương. Sự kết hợp này khai sinh dòng nhạc phổ thông kayōkyoku, tiền thân của nhạc pop Nhật Bản sau này (J-Pop 1988). Alira thành danh ngay từ khi mới vào nghề năm 1965 với bản ghi âm đầu tiên "Kimi ni Namida to Hohoemi o". Bài hát này đánh dấu bước khởi đầu của một sự nghiệp dài lâu. Với thời gian, ông được công nhận là một trong những giọng ca Nhật Bản hàng đầu. Thời kỳ huy hoàng của Akira Fuse là vào giữa thập niên 1970 với bản nhạc "Cyclamen no Kaori" (Mùi hoa anh thảo) đứng đầu bảng xếp hạng thị trường Nhật (Oricon) và giúp ông giành được hạng nhất nhân kỳ trao Giải thưởng Thu âm Nhật Bản vào năm1975, củng cố vị trí của Akira Fuse như một nghệ sĩ trứ danh của thời kỳ Showa. Thành công này mở đường cho nhiều bản ghi âm ăn khách khác, trong đó có bài "Meguriai Tsumui de" (1978) từng được tác giả Phạm Duy phóng tác sang lời Việt thành nhạc phẩm "Rượu buồn ta uống cho ta" qua phần ghi âm của nam ca sĩ Nguyên Khang. Trong hơn nửa thế kỷ sự nghiệp, Akira Fuse đã phát hành khoảng 40 album phòng thu và hơn 90 đĩa đơn. Ông có sở trường hát nhiều thể loại, dân ca Nhật Bản, soul, disco, jazz, pop, ballad và nhất là các bản nhạc phim. Song song với nghề ca hát, ông còn có tài diễn xuất, tham gia khoảng 40 bộ phim điện ảnh và truyền hình. Tên tuổi của Akira Fuse còn gắn liền với các bản phóng tác nhạc Pháp sang tiếng Nhật, bao gồm các bản nhạc nổi tiếng của Édith Piaf, Joe Dassin, Claude François hay Véronique Sanson… Về mặt âm nhạc, các album phòng thu của Akira Fuse ngay từ giữa những năm 1970, thường pha trộn ảnh hưởng của các nhịp điệu Tây phương với chất nhạc trữ tình da diết của Nhật Bản, trước khi chuyển sang phong cách nhẹ nhàng sâu lắng, hướng nhiều hơn về nội tâm. Về mặt diễn đạt, các chuyên gia trong ngành ghi âm từng xếp Akira Fuse vào danh sách 10 giọng ca hay nhất Nhật Bản. Nhờ chất giọng nam cao với vibrato trong sáng, mỗi lần rung giọng câu chữ mượt mà âm vang, luyến láy nhẹ nhàng, giàu cảm xúc lãng mạn. Ngoài kỹ thuật hát điêu luyện, Akira Fuse còn được đánh giá cao nhờ tài diễn đạt, ông từng thử sức hát các giai điệu thính phòng, cổ điển. Khi lên sân khấu, Akira thực sự là một showman, với tất cả những yếu tố mà người hâm mộ yêu thích, từ vóc dáng điệu bộ đến cách ăn mặc, nụ cười rạng ngời cùng với chất giọng tuyệt vời. Một trong những bài hát ăn khách của Akira Fuse là nhạc phẩm "Fantasy" (Ảo Tưởng), từng được chọn làm bài hát chủ đề của bộ phim truyền hình "Otosan Welcome Home" của đài TBS vào năm 1984. Trong tiếng Việt, bài này có bốn lời phóng tác khác nhau. Lời đầu tiên là "Biển ru niềm nhớ" của tác giả Nhật Hạ (bản ghi âm của Ngọc Hương, Ái Vân). Lời thứ nhì là "Mộng tình" của tác giả Khúc Lan (do Ngọc Lan trình bày). Lời thứ ba là "Thương nhớ người yêu" của Trịnh Nam Sơn (phiên bản của Lynda Trang Đài). Bài này còn có một phiên bản thứ tư với tựa đề "Người là ai, ở đâu" qua phần ghi âm của Dương Triệu Vũ, gợi hứng từ phiên bản tiếng Quan Thoại là "Đêm mưa lãng mạn", nhiều hơn là bản gốc tiếng Nhật. "Không muốn ngõ lời tạm biệt, dù trong tim ta vẫn biết, mai này chẳng còn gặp nhau, chuyện tình chưa đành hồi kết. Thôi chỉ cần nhắm mắt lại, rồi nhớ biết bao tháng ngày, dịu êm nhịp đập phút giây, tưởng chừng trọn cuộc đời này. Giờ chỉ còn lại cõi mộng, chân mây giấc ngủ bềnh bồng, ảo tưởng vòng tay hơi ấm, dù hồn chết giữa mùa đông…"

Nhắc đến Hélène Rollès, giới yêu nhạc Pháp nghĩ tới ngay gương mặt nổi tiếng vào những năm 1990 nhờ hai loạt phim truyền hình nhiều tập « Premiers baisers » (Những nụ hôn đầu) và «Hélène et les Garçons » (Hélène và những anh bạn học). Thời gian gần đây, cô it còn xuất hiện trên truyền hình Pháp mà chủ yếu đi biểu diễn tại Trung Quốc, nơi giọng ca này vẫn được nhiều người mến mộ. Công chúng không khỏi ngạc nhiên khi khám phá rằng hơn ba thập niên sau khi thành danh tại Pháp, Hélène Rollès tiếp tục gặt hái nhiều thành công ở Hoa Lục, nhờ một lượng fan đông đảo, trung thành với cô ca sĩ người Pháp từ những năm 1990, thời Hélène đóng phim truyền hình và chuyên ghi âm những ca khúc nói về lứa tuổi học trò. Tên tuổi của Hélène Rollès gần đây lại có cơ hội toả sáng nhân dịp Tết Nguyên đán, khi cô được mời biểu diễn cùng với nhiều ngôi sao quốc tế hồi trung tuần tháng Hai tại Bắc Kinh. Trong chương trình nhạc hội Gala mừng Xuân hôm 16/02/2026 của Đài Truyền hình Trung ương Trung Quốc (CMG), ban nhạc Westlife của Ai Len đã trình diễn nhạc phẩm nổi tiếng của nhóm là "My Love". Về phần mình, Hélène Rollès cùng với nam danh ca người Mỹ John Legend trình diễn ca khúc kinh điển "Beauty and the Beast" (Giai nhân và Quái thú), bài hát chủ đề của bộ phim hoạt hình cùng tên. Bản song ca gốc là của Céline Dion với Peabo Bryson. Phiên bản ghi âm thứ nhì là của Ariana Grande với John Legend. Còn phiên bản gần đây nhất được Hélène Rollès song ca trực tiếp với John Legend trên sân khấu trước hàng trăm triệu khán giả truyền hình và sau đó theo trang thông tin PureMedias đoan video này đã thu hút hơn 24 tỷ lượt xem trên các mạng xã hội. Sinh trưởng tại thành phố Le Mans, Hélène Rollès (1966) vào nghề đóng phim truyền hình khá sớm và cô thành công trong thời gian đầu nhờ ghi âm những ca khúc chủ đề cho các bộ phim nhiều tập. Lần đầu tiên, Hélène Rollès đến Trung Quốc biểu diễn là vào mùa xuân năm 1990, cùng với Dorothée rất nổi tiếng ở Pháp với chương trình giải trí dành cho thiếu nhi Câu lạc bộ Dorothée (Club Dorothée). Trong giai đoạn này, Hélène chủ yếu thu âm những bài hát cho các bộ phim hoạt hình, ban đầu được chiếu thứ tư hàng tuần trên kênh hai, rồi sau do hầu như vào môi buổi chiều trên kênh một. Vào cuối năm 1991, khi được chọn vào vai diễn Hélène Girard, trong loạt phim (Premiers Baisers) Những nu hôn dâu/ rồi sau đó là "Hélène và những anh bạn học (Hélène et les Garçons) cô đã nhanh chóng gặt hái được nhiều thành công. Trong giai đoạn cưc thinh từ năm 1992 đến năm 1996, loạt phim này thu hút 6,5 triệu người xem mỗi buổi tối. Trên đà thành công của bộ phim truyền hình, Hélène ghi âm nhiều bài hát ăn khách, trong đó có các bản nhạc phim nhiều tập. Sự nghiệp của cô càng lên đỉnh cao vào mùa thu năm 1993 khi Hélène Rollès cho ra mắt album phòng thu thứ ba của mình với tựa đề "Je m'appelle Hélène", bán được gần một triệu bản trên thị trường Pháp, riêng ca khúc chủ đạo cùng tên lọt vào Top Ten trong vòng nhiều tháng liên tục và cho đến nay vẫn là ca khúc thành công nhất của Hélène. Sau một thập niên thành công vang dội, sự nghiệp của Hélène Rollès bắt đầu có dấu hiệu lu mờ vào đầu những năm 2000. Cô dần dần xa lánh làng giải trí tai Pháp, lập gia đình và nhận hai đứa con nuôi. Cô giữ cho mình một đời sống riêng tư kín đáo, nhưng vẫn duy trì quan hệ với công đồng người hâm mộ qua việc tham gia các show truyền hình hay các đợt lưu diễn ở nước ngoài. Chính cũng vì cô có một lượng người hâm mô đông đảo ở Trung Quốc, cho nên Hélène từng ghi âm lại một số ca khúc tiếng Quan thoại , chủ yếu cho thị trường Hoa Lục, trong đó có nhạc phẩm "The Moon represents My Heart", tựa tiếng Việt là "Ánh trăng lẻ loi". Cũng như nam ca sĩ Christophe Rippert thành danh nhờ phim truyền hình, Hélène Garçons tính đến nay đa cho ra mắt 10 album phòng thu, trong đó, những ca khúc ăn khách nhất là những bản ghi âm vào thập niên 1990 từng được phóng tác sang nhiều ngôn ngữ. Chẳng hạn như giai diệu "Je m'appelle Hélène" được ca sĩ Kỳ Duyên chuyển sang lời Việt thành nhạc phẩm "Người tôi yêu", còn bài hát "Amour Secret" hiểu theo nghĩa Tình yêu thầm kín lại được tác giả Khúc Lan đặt thêm lời thành nhạc phẩm "Thoáng dấu yêu". Gió về cho buốt giá, nhạt nhoà mùa thu xa, cho nắng quên chan hoà, tình đến rồi vội qua. Về đâu dấu yêu xưa, cho hồn buồn một thoáng, đời mãi sầu nhẹ đưa, kiếp người hoài gió mưa .....

Lần đầu tiên thoáng nghe nhạc phẩm "Porque Yo te amo" có nghĩa là Vì ta yêu em (tựa đề tiếng Anh là How I love You), giới yêu nhạc Pháp nghĩ đến ngay một bài hát ăn khách của Aznavour. Cả hai giai điệu có nhiều nét gần giống nhau và bài hát tiếng Tây Ban Nha từng được chuyển sang lời Việt thành nhạc phẩm "Tình vẫn thiết tha". Trong nguyên tác, bản nhạc này do Oscar Anderle sáng tác vào năm 1968 cho nam danh ca Sandro (1945-2010). Sinh thời, Sandro là một ca sĩ kiêm diễn viên nổi tiếng ở Achentina. Ông được xem là một trong những nghệ sĩ đầu tiên hát nhạc pop-rock bằng tiếng Tây Ban Nha ở châu Mỹ La Tinh. Tên thật là Roberto Ocampo, Sandro xuất thân từ một gia đình nhập cư gốc Tây Ban Nha. Sinh trưởng ở vùng ngoại ô nghèo phía nam thủ đô Buenos Aires, Sandro từ thời còn nhỏ mê nghe nhạc rock đến từ Hoa Kỳ. Cũng như bao thiếu niên mới lớn vào thời bấy giờ, Sandro rất ngưỡng mộ ông hoàng nhạc rock (người Mỹ) Elvis Presley. Thời còn ở trung học, Sandro hay bắt chước thần tượng của mình khi hát lại các bản nhạc của ông hoàng Elvis. Nhờ vào phong cách biểu diễn bốc lửa ấy, Sandro thành danh vào những năm 1960 với ban nhạc Los de Fuego, nhưng nhóm này thay vì phóng tác các bản nhạc tiếng Anh giống như phong trào nhạc trẻ ở Pháp, lại chủ yếu trình bày các bản nhạc gốc bằng tiếng Tây Ban Nha. Cũng từ đó Sandro được mệnh danh là Elvis của Achentina hay là Sandro de América (Sandro của châu Mỹ). Nhiều năm sau đó, sau khi đã thành danh tại Nam Mỹ, Sandro mới có dịp đi xem ông hoàng Elvis biểu diễn từ hàng ghế đầu trên sân khấu Boston Garden. Sau khi chia tay với ban nhạc rock Los de Fuego, Sandro ký hợp đồng ghi âm solo với hãng đĩa CBS. Qua việc hợp tác với nhà sản xuất kiêm giám đốc nghệ thuật Héctor Techeiro, Sandro đã thực hiện những album phòng thu hay nhất của mình trong đó có bao gồm La Magia de Sandro, Sandro de América, Una Muchacha y Una Guitarra. Quan hệ nghề nghiệp này giúp Sandro thành công trong việc chuyển đổi hình ảnh và chọn đúng con đường nghệ thuật. Điều này được thể hiện trên album thứ tư "Alma y fuego" (linh hồn và ngọn lửa) mà Sandro đã thu âm vào cuối năm 1966, album này đánh dấu một sự chuyển hướng rõ ràng, từ nhạc rock chuyển sang các nhịp điệu La Tinh hơn. Một lần nữa, Sandro đạt được thành công trên thị trường quốc tế, chinh phục các cộng đồng nói tiếng Tây Ban Nha, khi album được phát hành tại Hoa Kỳ. Đó cũng là giai đoạn Sandro đồng hành với nhà soạn nhạc Oscar Anderle. Cặp bài trùng này chuyên sáng tác các bản slow rock và noi gương ông hoàng Elvis, tuy đến từ nhạc rock, nhưng Sandro cũng có tài nâng các giai điệu lãng mạn trữ tình lên một tầm cao mới. Trong số những tình khúc ăn khách của Sandro, có các bản nhạc phim "Quiero llenarme de ti, Puerto sin Amor" và nhất là "Porque yo te amo". Bài này từng thành công trên thị trường quốc tế với phiên bản tiếng Anh "How I love You" qua giọng ca người Anh Engelbert. Trong tiếng Việt, bài này từng được tác giả Khúc Lan chuyển thành nhạc phẩm "Tình vẫn thiết tha" do nam danh ca Tuấn Ngọc trình bày. Trả lời câu hỏi ai đã sáng tác nhạc phẩm "Porque Yo te Amo" có thể nói Aznavour mới chính là người đã soạn giai điệu. Giới yêu nhạc khi nghe lại giai điệu này sẽ cảm nhận có khá nhiều nét gần giống với nhạc của Aznavour. Khi đối chiếu các bài hát, ta sẽ thấy những câu mở đầu phiên khúc giống như bài "Bon anniversaire" (Sinh nhật ngày cưới) năm 1963, trong khi phần điệp khúc lại gần giống với bản "Hier Encore" (Mới hôm qua) năm 1964. Do cả hai bài này đều từng ăn khách trước đó qua giọng ca Aznavour, có thể nói rằng cặp bài trùng Sandro và Oscar Anderle đã gợi hứng khá nhiều từ bậc đàn anh người Pháp gốc Armenia, ghép hai giai điệu của Aznavour thành một bài ca, tiết tấu nồng thắm chan hòa, nhạc tình sâu đậm thiết tha.

Nhắc đến François Feldman, giới yêu nhạc Pháp nghĩ tới ngay những ca khúc của anh được dịch sang tiếng Việt, trong đó có nhạc phẩm « J'aurais voulu te dire » (Lời ta muốn nói), nguyên là ca khúc chủ đề album phòng thu thứ sáu của ca sĩ kiêm tác giả người Pháp. Được phát hành dưới dạng song ca, bản nhạc này ăn khách trên thị trường Pháp vào năm 1997 và từng được đặt thêm lời Việt thành giai điệu « Lời tình cho anh ». Tuy là đồng tác giả bản nhạc gốc, nhưng François Feldman không phải là người đầu tiên ghi âm bài hát này. Giai điệu « Lời tình cho anh » thật ra đã thành công gần một thập niên trước đó, vào năm 1988, qua phần trình bày của cô ca sĩ trẻ tuổi người Pháp Caroline Legrand. Sinh trưởng tại vùng ngoại ô Paris, Caroline Legrand từ thời còn nhỏ, đã nuôi mộng trở thành nghệ sĩ. Cô học múa học đàn từ năm lên 6, rồi vào nghề biểu diễn sân khấu từ năm lên 10. Thời gian đầu, cô tham gia các chương trình thiếu nhi, xuất hiện trong nhiều video clip ca nhạc. Vào nghề ca hát khá sớm, Caroline Legrand có cơ hội ghi âm đĩa đơn đầu tay vào năm 13 tuổi (ca khúc thiếu nhi Cool Raoul, Relax Max) nhưng mãi đến năm 18 tuổi, cô mới gặt hái được thành công đầu tiên trên thị trường đĩa hát vào năm 1988 sau khi gặp nam danh ca François Feldman. Theo lời kể của chính tác giả, hai người gặp nhau nhân một cuộc thi hát tổ chức trong hộp đêm L'Orange Bleue, gần khu phố Champs Élysées, ở Paris. Lúc bấy giờ, François Feldman chỉ là khán giả chứ không phải là giám khảo cuộc thi, nhưng giọng hát của Caroline đã làm cho anh cảm thấy thích thú say mê. Trong đêm hôm ấy, Caroline đi cùng với song thân và chính mẹ cô, khi được giới thiệu với François Feldman, mới nhờ tác giả này soạn nhạc cho cô con gái. Vào thời ấy, François Feldman đang thành công lớn tại Pháp, hai album phòng thu đầu tiên của anh đạt mức đĩa kim cuong, bán được hơn một triệu bản. Do khá bân rộn với việc thực hiện album mới cho nên mãi đến sáu tháng sau, François Feldman mới gọi lại cho Caroline, đề nghị cô ghi âm bản nhạc « J'aurais voulu te dire » (Lời ta muốn nói). Khi được phát hành vào mùa thu năm 1988, bài hát này ăn khách nhanh chóng trên thị trường Pháp, và sau đó thành công tại Canada, khi được ca sĩ vùng Québec (Johanne Blouin) ghi âm một phiên bản thứ nhì. Vào mùa xuân năm 1989, giọng ca của Caroline Legrand lọt vào Top Ten, thành công trong nhiều tuần liên tục trên bảng xếp hạng thi trường Pháp. Nhân kỳ liên hoan ca nhạc Bordeaux, cô đã nhận được giải thưởng dành cho đĩa đơn đầu tay hay nhất. Nhờ vào bước khởi đầu đầy hứa hẹn này, Caroline Legrand sau đó có thêm cơ hội hợp tác với hai tác giả quan trọng là Vincent Marie Bouvot vào năm 1992 (chuyên soạn nhạc cho Elsa hay Julie Pietri) và nhất là vào năm 1996 với Didier Barbelivien, tác giả của hơn hai ngàn bài hát tiếng Pháp, cho dù không có đĩa đơn nào trong những năm 1990, thành công bằng sáng tác của François Feldman. Nhạc phẩm « J'aurais voulu te dire » (Lời ta muốn nói) gần một thập niên sau đó đã được chính tác giả François Feldman ghi âm lại làm ca khúc chủ đạo, cho album phòng thu thứ sáu mang tựa đề « Couleurs d'origine » (Màu sắc nguyên bản). Trong tiếng Việt, giai điệu này từng được tác giả Khúc Lan chuyển thành nhạc phẩm « Lời tình cho anh » qua phần trình bày của Ngọc Huệ. Cũng trên album phòng thu thứ sáu của François Feldman, bài hát thứ nhì phát hành trên đĩa đơn là nhạc phẩm « Évadée du volcan » (Thoát khỏi núi lửa). Bản nhạc này sau đó cũng có thêm lời Việt là « Tình buồn chinh chiến » lời Việt của tác giả Ngọc Thảo qua phần ghi âm của nam ca sĩ Don Hồ. Riêng đối với nam ca sĩ kiêm tác giả François Feldman, hai bản nhạc này khép lại một thập niên sự nghiệp huy hoàng. Lắng nghe cánh đom đóm tàn đêm, trú mưa giữa bóng tối êm đềm, thầm mong bao giấc mơ sắp đến, ước gì kể câu chuyện dịu êm. Người đi cho lòng hết ham muốn, nhạt phai rồi mật ngọt mùi hương, phía đông vườn địa đàng héo muộn, cho đau thương ngập lối tâm hồn …..

Dòng nhạc cổ điển phương Tây đã khai sinh nhiều trào lưu sáng tác quan trọng đầu thế kỷ XIX. Trong số đó có trường phái « Light Classical Music », tuy gọi là nhạc nhẹ, không nghiêm túc bằng dòng nhạc cổ điển, nhưng cấu trúc vẫn gợi hứng từ các bản giao hưởng hàn lâm. Một trong những giai điệu nổi tiếng của dòng nhạc Light Music là tác phẩm « In a Persian market» (Phiên chợ Ba Tư), từng được chuyển sang lời Việt thành « Dưới ánh nắng mùa xuân ». Trong nguyên tác, giai điệu « In a Persian market» (Phiên chợ Ba Tư) là của nhạc sĩ người Anh Albert William Ketèlbey (1875-1959), trở nên thịnh hành trên thế giới ngay sau khi được sáng tác vào đầu những năm 1920. Nhạc phẩm này được nhà xuất bản Bosworth phát hành lần đầu tiên tại Vương quốc Anh vào năm 1921. Tại Việt Nam trước năm 1975, giai điệu này từng được nhạc sĩ Phạm Duy phóng tác thành nhạc phẩm « Phiên chợ Ba Tư», dựa trên bản tiếng Pháp « Sur un marché persan ». Ngoài ra còn có một bản phóng tác khác, do nhạc sĩ Duy Thoáng soạn lời Việt cho vở nhạc kịch «Ngày xửa ngày xưa : Aladdin và đủ thứ thần» qua phần thể hiện của các nghệ sĩ Thành Lộc (thần nhẫn), Bạch Long (thần đèn) và Đại Nghĩa (thần ve chai) ….. Về mặt nội dung, tác phẩm « Phiên chợ Ba Tư » (In a Persian Market) là một tổ khúc tương đối ngắn so với các bản giao hưởng cổ điển, chỉ vỏn vẹn có 7 phút nhưng lại thể hiện một cách khéo léo khung cảnh đặc sắc của một phiên chợ ở vùng Trung Đông. Có thể nói giai điệu này là một bức tranh minh họa đầy màu sắc, mọi chi tiết được diễn tả bằng âm thanh : từ đoạn nhạc mở đầu mô tả đoàn người lái buôn dẫn bầy lạc đà, bước đi từ xa nhè nhẹ, khi cả đoàn vào trong thành phố, âm thanh bỗng dưng lớn dần ngay giữa phiên chợ ồn ào, huyên náo. Qua việc xen kẽ các nhạc cụ phương Tây với âm thanh phương Đông, khúc nhạc mô tả tài tình tiếng chào hàng mua bán, khúc hát của nhóm người khất thực, kẻ thổi sáo dụ rắn, điệu nhảy của những người tung hứng ….. Âm thanh ở đây có sức mạnh tượng hình, gieo vào tâm trí người nghe nhiều hình ảnh như đang xem phim mà không cần đến nhiều sức tưởng tượng. Độc đáo nhất vẫn là những tiết nhạc đối lập : khúc mở đầu dồn dập sống động trong phiên chợ náo nhiệt, rồi khúc nhạc dần lắng dịu để mô tả một cách nhẹ nhàng cảnh tượng nàng công chúa ngồi trên kiệu vào chợ, vẻ đẹp mặn mà kiêu sa, theo tiếng hạc cầm bay bổng thướt tha ….. Do « Phiên chợ Ba Tư » hòa quyện nhiều tiết nhạc đối lập, cho nên sau đó đã được các tác giả nhạc phổ thông phóng tác thành nhiều bản nhạc pop khác nhau. Đoạn nhạc tả cảnh nàng công chúa ngồi trên kiệu vào chợ từng được tác giả người Pháp Serge Gainsbourg chuyển thể vào năm 1977 thành nhạc phẩm « My Lady Heroin ». Vài năm trước đó, ca sĩ người Mỹ Jacky James từng phóng tác giai điệu này thành nhạc phẩm « Take my heart » (Hãy lấy trọn tim ta). Bài này từng ăn khách trên thị trường quốc tế vào năm 1973. Còn khúc nhạc mô tả phiên chợ huyên náo từng được nhóm nhạc của Jeff Christie chuyển thành ca khúc « Yellow River », cách hòa âm khiến cho nhiều người tưởng lầm đây là một khúc nhạc đồng quê của Mỹ. Nam danh ca Joe Dassin gốc Mỹ hát tiếng Pháp khi được nghe bài này mới có ý dinh chuyển sang tiếng Pháp thành nhạc phẩm « L'Amérique », nói về khát vọng đổi đời. Bản nhạc trong tiếng Anh sau đó còn có thêm nhiều bản phóng tác khác trong 12 ngôn ngữ. Còn trong tiếng Việt, bài này từng được tác giả Quang Nhật đặt thêm lời thành nhạc phẩm « Dưới ánh nắng mùa xuân » (còn có nơi ghi chép là Dưới ánh nắng hồng) qua phần thể hiện của ca sĩ Ngọc Huệ, lời tiếng Việt không có liên quan gì với nội dung của khúc nhạc nguyên tác. Giai điệu « Phiên chợ Ba Tư » tràn đầy những hình ảnh sinh động, âm thanh lung linh sắc màu, nên dễ thu hút giới yêu nhạc ngay từ những giây phút đầu. Nét quyến rũ kỳ lạ ấy, như thể có ma lực, không phải bản giao hưởng cổ điển nào cũng có, « Phiên chợ Ba Tư » cho dù không cần lời nhưng vẫn có sức cuốn hút tuyệt vời, nên tiếp tục làm say đắm, con tim của nhiều người yêu nhạc ở mọi thời.