
Hosted by RFI Tiếng Việt · VI
Thời sự quốc tế nổi bật qua lăng kính của RFI

Xung đột giữa Iran và liên quân Mỹ - Israel nay đã kéo dài sang tháng thứ hai, gây bất ổn cho nguồn cung năng lượng và kinh tế toàn cầu. Trong tình cảnh này, Pakistan, một tác nhân mới, đã bất ngờ xuất hiện và được cho là có tiềm năng hòa giải giữa Mỹ và Iran. Ngày 31/03/2026, Trung Quốc và Pakistan đề xuất thỏa thuận gồm 5 điểm nhằm chấm dứt chiến tranh giữa Iran và liên minh Mỹ - Israel. Trước đó, ngày Chủ Nhật, 29/03, Islamabad tuyên bố sẵn sàng tiếp đón các cuộc đàm phán giữa Washington và Tehran sau nhiều ngày làm sứ giả giữa hai bên. Vì sao lại chọn Pakistan ? Đâu là những lợi thế và những rủi ro cho quốc gia Nam Á này trong vai trò trung gian hòa giải ? Trung Quốc và Ấn Độ có vị thế ra sao trong ván cờ ngoại giao này ? RFI Tiếng Việt có cuộc trao đổi với nhà nghiên cứu địa chính trị về thế giới Ba Tư, Trung Á và Nam Á, Didier Chaudet, chuyên gia về Pakistan, Ấn Độ, thuộc Đài Quan Sát Tân Á-Âu. ----- ***** ----- RFI Tiếng Việt : Đây dường như không phải là lần đầu tiên Islamabad được Washington đề nghị làm trung gian hòa giải ? Didier Chaudet : Đúng vậy. Trên thực tế, vai trò trung gian của Pakistan có lịch sử lâu dài. Nước này đã từng giữ vai trò cầu nối giữa Mỹ và Trung Quốc trong những năm 1970. Sự xích lại gần giữa hai nước để chống Liên Xô một phần là nhờ sự hỗ trợ của Islamabad. Sau đó, chính là thông qua Pakistan mà Hoa Kỳ đã có thể thực hiện chính sách của họ ở Afghanistan vào những năm 1980. Và gần đây hơn là tiến trình hòa bình với phe Taliban ở Afghanistan, vốn dĩ đã được khởi động ngay từ thời chính quyền Trump đầu tiên, và một lần nữa, trong hồ sơ này, Pakistan đã rất tích cực tham gia. Lần này, trong cuộc xung đột vũ trang giữa Iran và liên minh Mỹ - Israel, vì sao Pakistan lại được chọn để làm trung gian hòa giải giữa Washington và Teheran ? Didier Chaudet : Bởi vì Pakistan là một trong số ít các quốc gia có nhiều đòn bẩy đáng kể đối với chính quyền Trump và chế độ hiện tại ở Iran. Một mặt, Pakistan là quốc gia có số người Hồi giáo theo hệ phái Shia đông thứ hai thế giới, chỉ sau Iran. Mặt khác, Pakistan đã vun đắp mối quan hệ mạnh mẽ với chính quyền Trump, vốn dĩ rất biết ơn quốc gia Nam Á này vì hai thắng lợi quan trọng : Thứ nhất, Pakistan đã bắt giữ một phần tử thánh chiến thực hiện cuộc tấn công khủng bố nhắm vào tòa đại sứ Mỹ ở Afghanistan trong thời gian triệt thoái quân Mỹ. Thứ hai là Pakistan đã biết cách nhấn mạnh tầm quan trọng hành động can thiệp của Washington trong việc giảm căng thẳng giữa New Dehli và Islamabad vào năm 2025. Thực tế là, mỗi lần như vậy, Pakistan đều tự xác định vị thế của mình theo cách có thể hài lòng chính quyền Trump, nhưng đồng thời nước này cũng có các mối quan hệ lịch sử, những kết nối nhân văn với Iran, thông qua cộng đồng người Hồi giáo hệ phái Shia. Bên cạnh đó, Pakistan không bị coi là một quốc gia liên minh với Mỹ và càng không phải với Israel, bởi vì Islamabad không công nhận Israel. Vì vậy, Teheran có thể cảm thấy phần nào tin tưởng vào Pakistan. Ngoài ra, không giống như các quốc gia Vùng Vịnh, Pakistan không có căn cứ quân sự nào của Mỹ. Phía Teheran vì vậy có thể dễ dàng liên lạc với Islamabad. Chính quyền Trump cũng cảm thấy thoải mái trong mối quan hệ với Pakistan, đặc biệt là với quân đội nước này. Nhìn chung, quốc gia Nam Á này có thể kết nối dễ dàng và suôn sẻ giữa Teheran và Washington. Theo ông, đâu là lợi ích và rủi ro tiềm tàng cho Pakistan khi chấp nhận đóng vai trò trung gian hòa giải cho Mỹ và Iran ? Didier Chaudet : Tôi nghĩ rằng Pakistan rất muốn can thiệp vào hồ sơ này. Là một nước láng giềng, Pakistan có chung đường biên giới với Iran dài gần 900 km. Hai nước này còn có chung một vấn đề : Đó là chủ nghĩa dân tộc ly khai người Baloch, một cộng đồng sắc tộc sinh sống chủ yếu tại Iran, Afghanistan và Pakistan. Những phong trào ly khai này thường xuyên vượt biên giới và đã gây ra nhiều rắc rối giữa Iran và Pakistan trong quá khứ. Vì vậy, nếu chẳng may Iran sụp đổ, Pakistan có nguy cơ nhìn thấy sự ra đời một nhà nước Balochistan độc lập, hay tệ hơn nữa là hỗn loạn bùng phát ở biên giới. Ngoài ra, Pakistan còn phụ thuộc vào nguồn năng lượng đến từ eo biển Hormuz. Quốc gia này rất cần tình hình ở Vịnh Ba Tư nhanh chóng được ổn định. Ít nhất là từ hai tuần nay, giá dầu diesel ở Pakistan đã tăng khoảng 20%. Những người làm việc trong lĩnh vực công ở Pakistan nay được yêu cầu chỉ làm việc 4 ngày trong tuần để tiết kiệm năng lượng và nhiên liệu. Vì vậy, có thể nói là Pakistan không muốn có hỗn loạn ở biên giới và muốn tình hình trở lại bình thường cho nhu cầu năng lượng của chính mình. Về phần rủi ro, kịch bản xấu nhất có thể là hoạt động ngoại giao đó của Pakistan không cho kết quả và nước này gặp thất bại trong việc gây ảnh hưởng để tái lập ổn định hay hòa bình, nhưng trên thực tế đó là một rủi ro tương đối hạn chế. Người ta không thể đổ lỗi cho Pakistan vì đã không xoa dịu được căng thẳng giữa Mỹ và Iran, nhất là Islamabad có thể dễ dàng biện minh rằng « còn có một con át chủ bài mà chúng tôi không kiểm soát được và cũng không ai kiểm soát được, đó là Israel, quốc gia có những lợi ích riêng của họ trong cuộc chiến chống Iran và về vấn đề này, chỉ có Hoa Kỳ mới có thể gây áp lực với đồng minh của họ. Nếu Trump không làm được, chúng ta cũng chẳng sẽ làm được gì ». Truyền thông Mỹ có nhắc đến tên của tướng Asim Munir, tổng tư lệnh quân đội Pakistan, như là một nhà trung gian kín tiếng giữa Trump và Iran. Trong ván cờ ngoại giao này, tướng Munir có vai trò cụ thể gì ? Didier Chaudet : Từ khi bắt giam Imran Khan, nhà lãnh đạo theo tư tưởng dân tộc chủ nghĩa, muốn thay đổi diện mạo đất nước và loại trừ dần dần tầm ảnh hưởng của quân đội Pakistan, tướng Munir là hiện thân cho quyền lực thực sự ở Pakistan, cho sức mạnh của sự ổn định, tiếng nói ngoại giao trong nhiều chủ đề then chốt và quả thực, ông đã tạo được một mối liên hệ đặc biệt với chính quyền Trump. Dường như cách tiếp cận của ông trong việc chỉ huy cuộc chiến chống Ấn Độ, quốc gia được cho là có ưu thế quân sự vượt trội và quả thực, Ấn Độ có nhiều nguồn lực quân sự hơn Pakistan, và bất chấp những điều đó, trong suốt giai đoạn căng thẳng 2025, Pakistan đã kháng cự mạnh mẽ và điều này đã được ghi nhận ở Washington. Mối liên hệ trực tiếp giữa Munir và Trump từ đó đã được thiết lập mà không có một sự đắn đo nào. Đó là vì chúng ta cũng đang đối diện với một chính quyền mà mối quan hệ cá nhân đóng vai trò quan trọng. Chính quyền Trump có xu hướng ủng hộ những nhà lãnh đạo mạnh mẽ và trước một Munir, họ đang đối mặt với một thế lực thực sự. Họ hiểu rằng nói chuyện với quân đội đồng nghĩa với việc nói chuyện với những thế lực ngầm đang tổ chức và kiểm soát Pakistan. Đây cũng chính là điều thu hút chính quyền Trump, đang tìm kiếm những nguồn quyền lực đích thực. Pakistan còn là một đồng minh rất gần gũi với Trung Quốc cả trên phương diện kinh tế lẫn quân sự. Liệu Trung Quốc có nắm giữ một vai trò ngầm nào trong ván cờ ngoại giao này hay không ? Didier Chaudet : Tôi có lẽ không coi đó là một vai trò bí mật, nhưng trên thực tế, các ngoại trưởng Pakistan, Ai Cập, Ả Rập Xê Út và Thổ Nhĩ Kỳ đã có cuộc gặp tại Islamabad, và một phái đoàn Pakistan cũng đã đến Bắc Kinh, rõ ràng là để giải thích và ít nhất là thông báo cho Trung Quốc biết các cuộc thảo luận đó đã đi đến đâu. Do vậy, tôi không cho đó là một kế hoạch bí mật, nhưng điều đó cho thấy một thế mạnh khác của Pakistan trong mối quan hệ với Iran và với Mỹ. Họ có thể đối thoại với Trung Quốc và có thể được Trung Quốc lắng nghe. Sớm hay muộn Trung Quốc rất có thể sẽ can dự để hỗ trợ thêm cho tiến trình hòa bình, bởi vì nếu chỉ có Mỹ và Iran mặt đối mặt, thì phía Iran sẽ không có chút niềm tin nào. Họ sẽ tự nhủ, « chúng ta đã hai lần đàm phán với chính quyền Trump và cả hai lần chúng ta đều bị phản bội vào năm 2025 và 2026 ». Bên cạnh đó là con át chủ bài Israel, hiện đang tiến hành cuộc chiến riêng và chính quyền Trump thì dường như không có khả năng kiểm soát đồng minh của mình. Xin nhắc lại là chính quyền Trump nhiệm kỳ I là bên đầu tiên đã xé bỏ Hiệp ước Hạt nhân Iran được ký kết dưới thời chính quyền Obama. Thế nên, từ góc nhìn Teheran, họ cảm thấy rất cần sự tham gia thực tế từ những bên khác ngoài Hoa Kỳ để có thể tin rằng hòa bình là điều khả thi. Về điểm này, ảnh hưởng kín đáo của Trung Quốc cho kết cục cuộc chiến là rất có thể, nhưng hiện tại người ta chưa đi đến giai đoạn đó, và vẫn đang trong quá trình thảo luận. Một lần nữa, theo ý tôi, Pakistan chỉ đang vận động hành lang và chuyển tin tức từ nước này sang nước khác. Ấn Độ, nước láng giềng và có mối quan hệ căng thẳng với Pakistan, phản ứng ra sao về việc Islamabad được chọn làm trung gian hòa giải giữa Mỹ và Iran ? Đâu là những rủi ro cho New Dehli ? Didier Chaudet : Thực tế là, tuy có mối quan hệ khó khăn với chính quyền Trump, Ấn Độ dường như đã chọn duy trì liên minh với Mỹ. Trước đây, Iran và Ấn Độ có một mối hữu nghị lâu đời, nhưng tình bạn đó đã phai nhạt dần. Từ năm 2021, Iran thường xuyên lưu ý rằng Ấn Độ là một bằng hữu gây thất vọng, rằng Ấn Độ đã quyết định chọn Washington thay vì Teheran. Chuyến công du gần đây của thủ tướng Narendra Modi đến Israel, nhằm khẳng định rằng Ấn Độ ngả theo và hoàn toàn ủng hộ Israel, khiến Iran có cảm giác quốc gia bằng hữu truyền thống đó không còn là bạn nữa. Liệu rằng Ấn Độ có thể làm khác đi hay không ? Điều này khá khó khăn bởi vì Ấn Độ không những rất cần mối quan hệ mạnh mẽ với Israel, mà còn cần cả mối liên kết chặt chẽ cả về kinh tế và ngoại giao với các nước Vùng Vịnh, đang hứng chịu tên lửa của Iran. Như vậy, Ấn Độ dường như đã chọn Israel v...

Chiến tranh của Mỹ và Israel chống Iran bùng lên ngày 28/02/2026. Eo biển Hormuz, một tuyến đường huyết mạch với vận tải dầu khí toàn cầu ngay lập tức gần như bị phong tỏa. Ngày 18/03, cơ sở sản xuất dầu khí Ras Laffan của Qatar, lớn nhất thế giới, bị tấn công. Hàng chục cơ sở hạ tầng dầu khí khác tại Vùng Vịnh bị oanh kích. Nhiều nhà quan sát so sánh cuộc khủng hoảng hiện nay với hai cú sốc dầu lửa trong thập niên 70, làm rung chuyển nền kinh tế toàn cầu. « Cú sốc dầu mỏ » là từ mà bộ trưởng Kinh Tế Pháp Roland Lescure sử dụng để nói về cuộc khủng hoảng hiện nay trong phát biểu trước Ủy ban Tài chính Quốc Hội, mà theo ông, trong vòng nửa thế kỷ nay chỉ có khoảng mươi cú sốc như vậy. Một ngày trước đó, giám đốc điều hành Cơ quan Năng lượng Quốc tế (IEA), ông Fatih Birol, đã cảnh báo rằng thế giới có thể đang bước vào cuộc khủng hoảng năng lượng tồi tệ nhất từ nhiều thập kỷ nay. « Ba tuần im lặng » và lời cảnh báo của giám đốc IEA Giám đốc điều hành Cơ quan Năng lượng Quốc tế (IEA) nhấn mạnh : « Tôi đã quyết định không nói chuyện với báo chí trong vòng ba tuần. Nhưng cho đến thứ Sáu tuần trước (18/03), tôi cảm thấy mình phải có vài lời. Bởi vì tôi có ấn tượng rằng tầm mức nghiêm trọng của vấn đề chưa được các nhà hoạch định chính sách trên toàn thế giới hiểu rõ. » Lãnh đạo cơ quan Năng lượng Quốc tế giải thích : « Cho đến nay, chúng ta đã mất 11 triệu thùng dầu mỗi ngày, nhiều hơn tổng lượng dầu mất trong hai cuộc khủng hoảng dầu mỏ lớn 1973 – 1979 cộng lại », « vào thời điểm đó, trong mỗi cuộc khủng hoảng này, thế giới đã mất khoảng 5 triệu thùng dầu mỗi ngày, vì vậy, cộng hai cuộc khủng hoảng lại, tổng cộng là 10 triệu thùng dầu mỗi ngày », chưa kể đến « sự sụp đổ của thị trường khí đốt ». Bóng ma đại khủng hoảng 1973 : Chấm dứt ba thập niên thịnh vượng phương Tây Chiến tranh Trung Đông và khủng hoảng dầu khí đang diễn ra khiến hồi ức đầy ám ảnh về cuộc đại khủng hoảng dầu mỏ 1973 trở lại. Diễn biến trực tiếp kích phát cuộc đại khủng hoảng này là cuộc chiến tại Trung Đông, thường được gọi là cuộc chiến Yom Kippur, tên một ngày lễ lớn của người Do Thái. Ngày 06/10/1973, để chống lại chính sách thôn tính lãnh thổ Palestine của chính quyền Tel Aviv, liên quân Syria và Ai Cập bất ngờ tấn công Israel đúng vào ngày đầu tiên của lễ Yom Kippur. Quân đội Israel được sự hỗ trợ của Mỹ đã giành lại được ưu thế. Chính trong bối cảnh đó, ngày 16 và 17/10, mười quốc gia xuất khẩu dầu mỏ Ả Rập, họp tại thành phố Kuwait, đã quyết định tăng giá dầu và giảm xuất khẩu sang các nước ủng hộ Israel, để trừng phạt Mỹ và các đồng minh. Chỉ trong vài tuần, giá một thùng dầu tăng gấp bốn lần. Giá xăng, giá điện tăng vọt. Và giá điện cũng vậy. Cú sốc dầu mỏ năm 1973 được nhiều nhà quan sát ghi nhận là một chấn động chưa từng có với các nước phương Tây, chấm dứt 30 năm thịnh vượng với nguồn cung năng lượng giá rẻ. Đây là lần đầu tiên các nước sản xuất dầu mỏ, ngoài phương Tây, sử dụng vũ khí tài nguyên này để chống lại phương Tây. Cấm vận dầu mỏ của khối OPEC (từ tháng 10/1973 đến tháng 3/1974), đã đẩy hầu hết các nước phương Tây vào suy thoái (GDP Mỹ sụt giảm 0,6%, các nước châu Âu giảm 1%). Lạm phát tăng vọt (25% với Nhật Bản). Tỉ lệ thất nghiệp tăng từ 2 đến 3% ở hầu hết các nước phương Tây (Đức tăng từ 1 lên 4,7%). Các hậu quả kéo dài trong nhiều năm. Khủng hoảng hiện tại chưa thấm gì so với các cú sốc thập niên 70 Nhiều nhà quan sát không thừa nhận cuộc khủng hoảng dầu khí hiện nay có thể so sánh với tầm mức cuộc đại khủng hoảng dầu lửa kinh hoàng của thập niên 70, khi dầu lửa chiếm đến gần một nửa nguồn năng lượng của thế giới, và sản xuất dầu mỏ tập trung chủ yếu tại Trung Đông. Trên CNews, ngày 26/03/2026, nhà báo Éric de Riedmatten nhận định: « Chúng ta hiện không còn phụ thuộc vào dầu mỏ vùng Vịnh như trước đây nữa; chúng ta mua dầu từ Hoa Kỳ và Nigeria. Tất cả các nhà máy điện đều là điện hạt nhân, và để vận hành chúng, khí đốt chỉ chiếm có 5%. Đừng quên rằng cú sốc dầu mỏ năm 1973 xảy ra sau Chiến tranh Yom Kippur, khiến giá một thùng dầu tăng gấp 4 lần chỉ trong 6 tháng. Thế giới đã thay đổi sau đó; giá cả tăng vọt. Chúng ta đã có lạm phát 15,2% vào năm 1974. Thực sự đã có hai cú sốc dầu mỏ. Nhưng chỉ có hai thôi, nhưng cả hai đều rất nghiêm trọng. Cú sốc thứ hai là vào năm 1979 với cuộc cách mạng ở Iran, Chiến tranh Iran-Irak, và giá một thùng dầu đã tăng gấp ba lần, từ 10 đô la lên 30 đô la. Đó mới thực sự là một cú sốc dầu mỏ. Rồi đến năm 2008, tình trạng tiêu thụ quá mức toàn cầu đã khiến giá dầu tăng vọt, đạt mức 150 đô la một thùng. Nếu nhìn vào tình hình hiện tại, đúng là không dễ dàng, và nếu tiếp tục, hậu quả sẽ rất nghiêm trọng, nhưng trên thực tế, nó sẽ gây ra cú sốc tài chính lớn, hơn là cú sốc dầu mỏ vì những lý do như tôi đã giải thích, và chúng ta có thể kết luận rằng: Có lẽ chúng ta sử dụng ngôn từ quá dễ dãi, như diễn đạt của bộ trưởng Kinh Tế Roland Lescure. Diễn đạt kiểu này gây ra một cú sốc do hùng biện thì đúng hơn ! » Ba tiêu chí xác định « cú sốc » : Mức tăng giá, tốc độ tăng giá và thời lượng Để xác định tầm mức của cuộc khủng hoảng hiện nay, trong cuộc tọa đàm do Đài France 24 tổ chức hôm 19/03, chuyên gia về năng lượng Francis Perrin, giám đốc nghiên cứu tại Viện Nghiên cứu Quốc tế và Chiến lược IRIS, Nghiên cứu viên cộng tác tại Policy Center for the New South (Rabat), nêu bật ba tiêu chí cho phép xác định cuộc khủng hoảng đang diễn ra có phải là một cú sốc lớn với nền kinh tế thế giới hay không, bao gồm mức tăng giá, tốc độ tăng và thời lượng: « Chúng ta định nghĩa thế nào là cú sốc ? Theo tôi, có ba yếu tố trong định nghĩa này. Trước tiên là giá cả tăng mạnh. So với ngày 27/2, tức một ngày trước khi cuộc xung đột bắt đầu, chúng ta đã chứng kiến giá dầu tăng khoảng 50% và giá xăng tăng khoảng 90%. Đó là một con số khá lớn. Thật sự rất lớn ! Yếu tố thứ hai của định nghĩa về cú sốc, đó là giá cả tăng mạnh trong một khoảng thời gian ngắn. Thực tế diễn ra tương ứng với tiêu chí thứ hai. Tiêu chí thứ ba là giá cả sẽ duy trì ở mức cao trong vòng bao lâu? Vào lúc chúng ta bắt đầu chương trình truyền hình này, giá dầu đã giảm một chút. Hiện tại là khoảng 108 đô la một thùng dầu thô Biển Bắc. Giả sử giá dầu duy trì ở mức 100-110 đô la một thùng trong vòng 15 ngày. Điều đó sẽ không gây sốc ! Nếu duy trì như vậy trong sáu tháng, thì rõ ràng là đáp ứng tiêu chí thứ ba của định nghĩa về cú sốc năng lượng. Chúng ta cần theo dõi tiêu chí thứ ba này bởi vì chúng ta đang trong một cuộc chiến, một cuộc chiến diễn ra trước mắt, mà mình gần như bất lực. Vì vậy, tôi cho rằng với việc hai trong ba tiêu chí trên được đáp ứng, chắc chắn có nguy cơ xảy ra một cú sốc dầu khí. » Sẽ là đại khủng hoảng, nếu giá tăng cao liên tục trong nhiều tháng Cú sốc năng lượng làm rung chuyển nền kinh tế toàn cầu, mang tầm vóc như của đại khủng hoảng 1973, rõ ràng chưa xảy ra. Tuy nhiên, chuyên gia Francis Perrin, Giám đốc nghiên cứu tại IRIS, nhấn mạnh cần theo dõi sát : « Nhưng hãy trở lại năm 2022, vào lúc chiến tranh Ukraina bùng nổ. Hãy nhớ rằng giá dầu thô Brent đã tăng lên gần 140 đô la một thùng vào đầu tháng 3/2022. Giá trung bình cho cả năm đó là 100 đô la một thùng. Hiện giờ chúng ta chưa đạt đến mức đó ! Còn giá khí đốt ở châu Âu vào thời điểm đó, trong mùa hè năm 2022, đã đạt mức 345 euro cho mỗi megawatt-giờ. Hiện tại, giá chỉ ở mức 61 euro mỗi megawatt-giờ. So sánh như vậy để thấy, đã có sự tăng mạnh và tăng đột ngột về giá, nhưng không đáng kể như năm 2022. Câu hỏi đặt ra là, mức cao này sẽ duy trì trong bao lâu? Nếu tình trạng này kéo dài vài tháng, chúng ta có thể nói đến một cú sốc mới. » Về phần mình, ông Damien Ernst, chuyên gia năng lượng và giáo sư tại Đại học Liège, Bỉ, nói đến nguy cơ giá dầu có thể lên đến mức 200-250 đô la một thùng (hơn gấp đôi so với hiện nay, gấp từ 7 đến 8 lần so với đầu năm): « Một cuộc khủng hoảng dầu mỏ trầm trọng hơn, và đi kèm với khủng hoảng khí đốt nữa, với việc giá khí đốt cho mùa đông năm 2026-2027 sẽ không bao giờ trở lại mức như hồi tháng 1-tháng 2 năm nay, tức mức giá trước khủng hoảng. » Những phản ứng « câu giờ », trấn an và viễn cảnh đầy bất định Theo giới chuyên gia, việc giải phóng một lượng dầu dự trữ chiến lược lên tới 400 triệu thùng, tương đương với khoảng « 20 ngày sử dụng », tạm thời giúp ngăn chặn giá dầu Brent và giá xăng tăng vọt. Theo giáo sư kinh tế Patrice Geoffron, « đây là một khối lượng khổng lồ, chắc chắn như vậy, nhưng không đủ để xoa dịu nỗi lo lắng của các nhà kinh doanh trên thị trường dầu mỏ. » Các tuyên bố mà tổng thống Mỹ và thủ tướng Israel liên tục đưa ra về một cuộc chiến sắp kết thúc có tác động kìm giá rõ rệt. Chẳng hạn như giá dầu giảm mạnh hôm 10/03, khi ông Trump tuyên bố cuộc chiến « gần như kết thúc », tuyên bố được đưa ra ngay sau khi Israel lần đầu tiên tấn công nhiều kho dầu của Iran, khiến lo ngại về một cuộc chiến tàn khốc chống lại cơ sở hạ tầng năng lượng tăng vọt. Tuy nhiên tất cả những phản ứng hạ hỏa đó đều chỉ mang tính tình thế, mà một số nhà quan sát gọi đó là để « <a href="https://www.franceinfo.fr/economie/transports/prix-des-carburants/on-s-achete-...

Ngày 28/02/2026, khi mở chiến dịch không kích ồ ạt chưa từng có « Epic Furry » chống Iran và giết chết nhiều lãnh đạo cao cấp hàng đầu của nước này, Hoa Kỳ và Israel đặt ra mục tiêu rất rõ ràng : Lật đổ chế độ thần quyền có từ năm 1979. Tuy nhiên, từ sau Thế chiến thứ II đến cuộc chiến Irak năm 2003 và gần đây nhất là chiến tranh Ukraina, lịch sử đã chứng minh rằng các cuộc không chiến không nhất thiết hiệu quả trong việc làm suy yếu một chế độ và bẻ gãy sự hậu thuẫn mà người dân dành cho chế độ đó. Hầu hết giới chuyên gia có chung một nhận xét: Hoa Kỳ và Israel tiến hành chiến dịch không kích quy mô lớn, ngoài mục tiêu phá hủy các cơ sở hạt nhân và quân sự của Iran, còn nhằm dẫn đến việc thay đổi chế độ. Nhưng đằng sau chiến lược quân sự này là một học thuyết từ lâu đã bị bác bỏ nhưng giờ đây đang được các nhóm tân bảo thủ ở Washington hồi sinh : Huyền thoại về việc « thay đổi chế độ » bằng « ưu thế trên không », đã được vị tướng người Ý Giulio Douhet (1869 – 1930) phát triển trong những năm 1920. Huyền thoại sáng lập : Douhet và « cuộc chiến trên không » Tuần báo Pháp L’Express nhắc lại, vào năm 1921, trong tác phẩm nổi tiếng « Thế thống trị trên không » (Il dominio dell’aria), nhà lý luận người Ý này đã viết : « Giành được ưu thế trên không có nghĩa là chiến thắng, bị đánh bại trên không là thất bại ». Theo ông, không một loại vũ khí nào – cả phòng không lẫn chiến đấu cơ – có thể ngăn chặn một cuộc chiến trên không quy mô lớn. Những cuộc không kích này cho phép giành chiến thắng bằng cách ném bom vào hậu phương và các trung tâm kinh tế (công nghiệp, kho hàng, đường sắt) và quân sự (kho đạn, sở chỉ huy), tóm lại là những cơ sở trọng yếu của đối phương, cũng như là bằng cách ném bom thường dân để bẻ gãy tinh thần của họ. Các quốc gia đối địch sẽ buộc phải khuất phục, hay trong trường hợp của Iran, khi dự báo một sự nổi dậy của người dân để ngăn chặn các cuộc oanh kích và đi đến một sự thay đổi chế độ. Theo giải thích từ nhà nghiên cứu Nicolas Minvielle, chuyên gia về đổi mới và quốc phòng (Audencia) trên trang The Conversation, nhìn chung, tầm nhìn này của Douhet được dựa trên một giả thuyết đơn giản : « Nỗi sợ hãi hủy diệt ý chí tập thể ». Nhưng thực tế thì sao ? Học thuyết hiện đại về cưỡng chế trên không Nghiên cứu của nhà chính trị học người Mỹ, Robert A. Pape, về các chiến dịch không kích trong thế kỷ XX (Bombing to Win. Air Power and Coercion in War, 1996) cho thấy tiến triển mới của huyền thoại « thắng cuộc bằng không chiến », được thể hiện qua ba chiến lược khác nhau. Ý tưởng ở đây là xác định xem trong thời gian đầu, mục tiêu thực sự đằng sau việc sử dụng vũ khí không quân là gì, để có thể đánh giá các hiệu quả. Trong lô-gic này, Pape đề xuất ba chọn lựa : Thứ nhất là « trừng phạt », bằng cách tấn công thường dân nhằm giáng những nỗi đau khổ và gây ra các áp lực chính trị nội bộ. Đây là phiên bản đương đại của mô hình Douhet. Thứ hai là « mạo hiểm » (leo thang dần dần). Đe dọa tăng dần các cuộc không kích nhằm tạo ra một sự bất định và nỗi lo sợ hủy diệt hoàn toàn. Và sau cùng là « tước mất », nghĩa là phá hủy các năng lực quân sự, hậu cần và chiến lược, ngăn chặn đối phương đạt được các mục tiêu của mình. Phần lớn các nghiên cứu của Pape về những chiến dịch oanh tạc đã chỉ ra rằng những hoạt động quân sự trên không dựa vào ý tưởng trừng phạt dân sự gần như luôn thất bại và những chiến dịch nào nhằm mục tiêu ngăn chặn các hành động quân sự của đối phương đều cho thấy hiệu quả. Nói cách khác, sự cưỡng chế có hiệu quả khi nhằm làm thay đổi một tính toán chiến lược, chứ không phải khi nhằm bẻ gãy tinh thần. Sự khác biệt này là cơ bản, bởi vì nếu mục tiêu bị nhầm, hiệu quả như mong đợi sẽ không có. Điều này được thấy rõ trong nhiều cuộc chiến suốt thế kỷ XX từ chiến dịch « Rolling Thunder » của Mỹ ở Việt Nam (1965 – 1968), các đợt thả bom của Mỹ trong chiến tranh Vùng Vịnh 1991, chiến dịch của NATO ở Kosovo, hay chiến tranh xâm lược Ukraina do Nga phát động năm 2022 và gần đây nhất là cuộc chiến Iran do Mỹ và Israel tiến hành. « Ưu thế trên không » và « Cấu trúc tinh thần » Vì sao chiến lược « ưu thế trên không » lại không mấy hiệu quả ? Nhà nghiên cứu Nicolas Minvielle cho rằng cần phải xem lại tác phẩm « The Structure of Morale », tạm dịch là Cấu trúc tinh thần, xuất bản năm 1943 của nhà phân tâm học J.T. MacCurdy. Khi phân tích phản ứng của người dân Anh trong suốt chiến dịch dội bom nổi tiếng Blitz (1940-1941) của không quân Đức chống Vương quốc Anh, ông phân biệt ba nhóm người sau một vụ nổ : Người chết (misses), Người suýt chết (near misses) và Người không bị ảnh hưởng (remote misses). Theo MacCurdy, các cuộc oanh kích tạo ra nhiều người sống sót hơn là nạn nhân, và sau nỗi sợ hãi ban đầu, quá trình thích nghi nhanh chóng hình thành. Người sống sót phát triển nhiều phản ứng khác nhau, từ cam chịu đến cảm giác bất khả xâm phạm. Họ học hỏi được nhiều điều và quen dần với tình huống : Nỗi sợ hãi dữ dội của cú sốc ban đầu giảm đi, nếu nỗi sợ đó không liên tục gắn liền với sự hủy diệt cá nhân. Vượt quá một ngưỡng nhất định, sự tàn phá tiếp theo sẽ mang lại hiệu quả giảm dần. Tinh thần người dân có xu hướng tiến triển theo hướng thờ ơ hoặc chịu đựng, nhưng không phải là đầu hàng hay nổi dậy chống chế độ như lịch sử đã cho thấy. Thậm chí, theo Nicolas Minvielle, các chiến dịch dội bom ồ ạt còn phản tác dụng. Trong Chiến tranh Việt Nam, nghiên cứu của M.A. Kocher và các đồng nghiệp đã chứng minh rằng việc đánh bom làng mạc đã làm dịch chuyển quyền kiểm soát lãnh thổ sang Việt Cộng. Thiệt hại thường dân đã làm mất tính chính đáng của chính quyền Nam Việt Nam và củng cố lực lượng nổi dậy. Nỗi khiếp hãi tiếp thêm sức mạnh của đối phương. Đó cũng là những gì đã diễn ra tại Irak (2014) và Syria (2011) : Các cuộc không kích đã không mang lại hiệu quả như mong đợi mà có nguy cơ làm gia tăng sự đoàn kết với quân nổi dậy khi dân thường bị trúng bom. Và nhất là bạo lực trên không hiếm khi làm thay đổi lòng trung thành theo hướng mong muốn. Bất chấp một thế kỷ nghiên cứu thực nghiệm, chứng minh sự hủy diệt vật chất hiếm khi tự nó dẫn đến sự sụp đổ chế độ, ý tưởng cho rằng áp lực quân sự bên ngoài có tác động chính trị quyết định vẫn tồn tại. Nếu như giới lãnh đạo đương đại không còn nói đến « bẻ gãy tinh thần một dân tộc » nữa, và thường nói rằng làm suy giảm năng lực hay dồn dập gia tăng áp lực có thể làm suy yếu vĩnh viễn một cấu trúc quyền lực hiện có, đó là vì họ tin vào sức mạnh công nghệ, sức mạnh hữu hình và độ chính xác của vũ khí không quân và nhất là họ nhầm lẫn giữa cú sốc ban đầu với hiệu quả lâu dài. Cú sốc và hiệu quả lâu dài : Iran, ví dụ mới nhất Cú sốc và nỗi kinh hoàng tạo ra một tác động ngoạn mục nhưng không nhất thiết đi đến đầu hàng chính trị. Theo nhà nghiên cứu Nicolas Minveille, hiệu quả của chiến lược oanh kích không chỉ phụ thuộc vào năng lực hủy diệt, mà còn vào bản chất của đối phương : Chế độ chuyên chế hay dân chủ ; chiến tranh thông thường hay nổi dậy, xã hội phân mảnh hay gắn kết cao. Cùng một chiến dịch có thể tạo ra những hiệu quả hoàn toàn khác nhau tùy thuộc vào bối cảnh xung đột. Đây là những gì đang áp dụng cho cuộc chiến tại Iran. Daniel Block, biên tập viên cấp cao của tạp chí Đối ngoại, trên kênh truyền hình CBC News nhận định rằng, xét về mặt lịch sử, xác suất chế độ thần quyền bị sụp đổ vì « mưa bom » là rất thấp. Ông nêu ra ba lý do: « Đầu tiên, đơn giản là cho dù quý vị có ghét lãnh đạo của mình đến mức nào, nếu đất nước quý vị bị ném bom, các cuộc oanh kích chỉ sẽ làm suy yếu phe đối lập, bởi vì họ thực sự không muốn bị coi là đứng về phía những người đang tấn công đất nước mình. Tất nhiên, cũng có những ngoại lệ. Nếu lãnh đạo của quý vị đặc biệt bị khinh ghét, thì có một số người không cảm thấy áy náy khi đứng về phía thế lực tấn công. Và chắc chắn có những người như vậy ở Iran, những người quá tuyệt vọng và quá chán ngán với sự lãnh đạo của Khamenei đến nỗi họ chấp nhận điều này hoặc thậm chí hoan nghênh nữa. Nhưng lý do khác là việc ném bom để xóa sổ hoàn toàn năng lực đàn áp của một quốc gia là vô cùng khó khăn. Quý vị thực sự cần phải có quân đội trên bộ để loại bỏ vũ khí nhỏ, loại bỏ tất cả các loại bom, những thứ mà quý vị cần hủy diệt để dập tắt khả năng của chính quyền đàn áp biểu tình. Iran của có một năng lực đàn áp đáng kể. Điều cuối cùng, tôi nghĩ đáng chú ý trong trường hợp của Iran, đó là phe đối lập của nước này rất yếu. Họ bị chia rẽ. Chính quyền, một lần nữa, bởi vì họ có năng lực đàn áp mạnh mẽ nên đã rất hiệu quả trong việc dập tắt phản kháng và bỏ tù những người đối lập. Và nhất là những người chống chế độ, họ thực sự không hòa thuận với nhau. » Iran và Chiến lược « mở rộng rủi ro » Bất chấp những bài học lịch sử, chiến lược « ưu thế trên không » vẫn có sức hấp dẫn chính trị, hứa hẹn mang lại kết quả mà không cần đưa quân ồ ạt trên bộ, và do vậy không có những tổn thất. Nhưng đó chỉ là một sự ảo tưởng về sự cưỡng chế từ xa. Các cuộc tấn công của Mỹ vào những mục tiêu của Iran được chính thức coi là một phần của chiến lược làm suy yếu năng lực. Mỹ và Israel oanh tạc các cơ sở hạ tầng, năng lực quân sự, làm tê liệt nền kinh tế và thay đổi cán cân sức mạnh quân sự. Nhưng trong trường hợp của Iran, nhà chính trị học người Mỹ Robert A. Pape, trong một bài phân tích mới nhất đăng trên trang Foreign Affairs n...

Cuộc chiến của Mỹ và Israel chống Iran bùng nổ ngày 28/02/2026. Ngay trong loạt tấn công đầu tiên, giáo chủ Iran và hàng chục chỉ huy cấp cao đã tử vong, trong đó có tổng tham mưu trưởng Quân đội, chỉ huy Lực lượng Vệ binh Cách mạng, bộ trưởng Quốc Phòng. Tổng thống Mỹ tuyên bố đã xóa sổ một phần lớn các phương tiện quân sự của Iran, dọa xóa sổ chế độ. Tuy nhiên, chiến tranh không có dấu hiệu ngừng nghỉ. Chế độ Iran « mất đầu », nhưng không có biểu hiện tan rã. Vì sao hệ thống quyền lực của chế độ Hồi giáo Iran có khả năng kháng cự cao ? Hệ thống quyền lực đa trung tâm Truyền thông Pháp chú ý đến nhận định của chuyên gia Ali Hashem, Trung tâm nghiên cứu Hồi giáo và Tây Á, Đại học Royal Holloway (Luân Đôn), về « cấu trúc quyền lực của chế độ Hồi giáo Iran được thiết kế để trở nên cấu kết chặt chẽ trước các áp lực, hơn là để bị sụp đổ » (bài « Iran Is Built to Withstand the Ayatollah’s Assassination /Chế độ Iran được thiết kế để trụ được ngay cả khi giáo chủ tối cao bị hạ sát »). Bernard Hourcade, chuyên gia về Iran, Trung tâm Khoa học Quốc gia Pháp – CNRS ví cái chết của lãnh tụ tối cao với hình ảnh « phá vỡ một rào cản lớn, nhưng vẫn còn đến 500 rào cản khác ». Về mặt chính thức, lãnh đạo tối cao Iran đứng đầu một mạng lưới của một loạt định chế, trong đó có Hội đồng bảo vệ Hiến pháp, Hội đồng Chuyên gia (bầu lãnh đạo tối cao), Lực lượng Vệ binh Cách mạng, nhưng hệ thống quyền lực trên thực tế không hẳn như vậy. Trả lời RFI tiếng Việt, Théo Nencini, chuyên gia về Iran, giảng viên Đại học Sciences Po ở Grenoble, đưa ra một giải thích chung về tính chất « đa trung tâm » của hệ thống quyền lực Iran: « Hệ thống chính trị Iran hoàn toàn không phải là một hệ thống tập trung hóa cao độ, theo nghĩa cổ điển, kiểu hình kim tự tháp. Đó là cái mà tôi gọi là một hệ thống quản trị dựa trên "mạng lưới quyền lực đa trung tâm và liên kết chặt chẽ" (réseau oligarchique multicentré et interconnecté). Về cơ bản, ta có thể hình dung một cấu trúc trong không gian ba chiều, giống như một kim tự tháp, nhưng hơi bị dẹt ở đỉnh. Trong cấu trúc này, có một số trung tâm quyền lực, ví dụ như Lãnh tụ tối cao và "Văn phòng của Lãnh tụ tối cao", như người ta thường gọi. Sau đó là Lực lượng Vệ binh Cách mạng. Tiếp theo là cấu trúc của một chế độ cộng hòa cổ điển, với các đại điện được bầu lên bằng phổ thông đầu phiếu, về cơ bản là chính phủ, Quốc Hội, v.v. Bên cạnh đó, ta có một tầng lớp tư sản kinh tế, mà về bề ngoài không trực tiếp liên kết với các trung tâm quyền lực nói trên. Xung quanh mỗi cực này, có các mạng lưới quyền lực, mạng lưới các nhóm lợi ích xoay quanh các cực này, có liên kết với nhau. Điều đó có nghĩa là có thể có mối liên hệ giữa những người từ "Văn phòng Lãnh tụ tối cao" và Vệ binh Cách mạng, cũng như giữa chính phủ và tầng lớp tư sản kinh tế. Một hệ thống cấu trúc như vậy không thể bị chặt đầu. » Nhà nghiên cứu Theo Nencini giải thích rõ hơn về mối quan hệ giữa Lãnh tụ tối cao và Lực lượng Vệ binh Cách mạng : « Có thể nói, Vệ binh Cách mạng là thực thể cho phép Lãnh tụ tối cao có phương tiện để vượt qua vô số rào cản của Hiến pháp và pháp lý trong chế độ Iran. Bằng cách vượt qua những rào cản này, Lãnh tụ tối cao, ta có thể nói một cách đơn giản, có thể trực tiếp phổ biến quan điểm của mình tới hệ thống hành chính. Nhưng điều quan trọng cần nhớ là Vệ binh Cách mạng, về một mặt nhất định là một thực thể tự chủ so với Văn phòng Lãnh tụ tối cao. Nghĩa là, tuy họ có tuyên thệ trung thành với nhà lãnh đạo này, nhưng họ có thể có đường lối chính trị riêng, tầm nhìn chiến lược riêng, không nhất thiết phải giống với tầm nhìn của Lãnh tụ tối cao. Và đây chính là điểm mà chúng ta có thể liên hệ với tình hình hiện tại. » Chuyển mạnh sang cơ chế tản quyền trong bối cảnh chiến tranh khốc liệt Sau cuộc chiến 12 ngày hồi năm ngoái của Mỹ và Israel, lực lượng vũ trang Iran nói chung và Vệ binh Cách mạng nói riêng đã thay đổi cấu trúc của hệ thống chỉ huy, để có thể nhanh chóng thay thế lãnh đạo. Theo chuyên gia Thierry Covilly, Viện Quan hệ Quốc tế và Chiến lược Pháp IRIS, nhìn chung chế độ sẵn sàng cho việc bất cứ chỉ huy nào bị hạ sát sẽ đều có người thay thế. Bộ máy an ninh, phòng thủ của Iran được tái cấu trúc thành khoảng 30 bộ chỉ huy cấp tỉnh, có thể đưa ra quyết định độc lập, trong trường hợp đầu não trung ương bị hủy diệt. Riêng về Lực lượng Vệ binh Cách mạng, chuyên gia Théo Nencini cho biết cụ thể: « Lực lượng Vệ binh Cách mạng đã bị chặt đầu một phần hồi tháng Sáu. Lực lượng này, dĩ nhiên, sau những gì đã xảy ra trong cuộc chiến 12 ngày tháng 6/2025, đã chuẩn bị để đối phó với việc Israel và Mỹ hành động theo cách này. Vì vậy, họ đã hạ thấp chuỗi chỉ huy xuống thấp hơn nhiều, đến cấp N-6 hoặc thậm chí N-7. Cụ thể là, trong quân đội, thông thường ta có một tổng tham mưu trưởng, và ở cấp N-1 là sĩ quan cấp dưới, N-2 ở cấp thấp hơn nữa, và cứ thế tiếp tục. Vì vậy, xuống đến cấp N-6 hoặc N-7 có nghĩa là có một cấu trúc chỉ huy có quyền tự quyết định hành động ở các bậc thấp, trải rộng ra trên toàn quốc. » Vệ binh Cách mạng với bộ máy trấn áp khổng lồ, bám rễ vào xã hội Nói đến sức mạnh của hệ thống quyền lực Iran trước hết phải nói về vai trò của Lực lượng Vệ binh Cách mạng (IRGC), Pasdaran trong tiếng Farsi, được thành lập từ năm 1979, ngay từ đầu cuộc Cách mạng Hồi giáo. Vệ binh Cách mạng có nhiệm vụ bảo vệ hệ tư tưởng Hồi giáo Shia và chế độ Cộng hòa Hồi giáo, cả trong nước và quốc tế. Khác với quân đội chính quy, Vệ binh Cách mạng trực thuộc Lãnh tụ tối cao, cho nên có quyền lực độc nhất vô nhị ở Iran. Vệ binh Cách mạng có các binh chủng riêng (lục quân, không quân, hải quân) và Lực lượng Qods, chuyên về các hoạt động ở nước ngoài, đặc biệt tại khu vực Trung Đông. Về kinh tế, họ kiểm soát toàn bộ các lĩnh vực trụ cột của nền kinh tế Iran, như dầu khí, xây dựng, viễn thông, với hàng trăm tỉ đô la. Vệ binh Cách mạng Iran thường được nói đến như một « Nhà nước trong một Nhà nước » là vì vậy. Trả lời RFI Việt ngữ, nhà chính trị học Azadeh Kian, giáo sư danh dự Đại học Paris – Cité, nhấn mạnh đến việc Vệ binh Cách mạng điều hành cả một lực lượng dân sự quy mô lớn, được giao phó nhiệm vụ kiểm soát xã hội : « Basij là một lực lượng dân quân với khoảng một triệu thành viên, một lực lượng mang đậm tính ý thức hệ, tồn tại và hoạt động dưới quyền của Vệ binh Cách mạng. Basij hiện nay là một lực lượng vũ trang, lực lượng được Vệ binh Cách mạng huấn luyện và giáo dục để đàn áp mọi phe đối lập trong nước. Với mọi cuộc biểu tình, trước hết chế độ sử dụng các lực lượng này để trấn áp. » Nhà báo Iran Mohsen Sazegara, một trong những người sáng lập Vệ binh Cách mạng, sau này trở thành người chống lại chế độ Hồi giáo, trả lời tuần báo Pháp L'Express, cho biết thêm là ngoài dân quân Basij, chế độ của cố giáo chủ Ali Khamenei còn sử dụng các lực lượng lính đánh thuê nước ngoài (từ Afghanistan, Pakistan…), với số lượng lên đến 30.000 người, và hàng chục tổ chức Irak, trong đó có nhiều tổ chức có quan hệ với Lực lượng Qods của Vệ binh Cách mạng, để đàn áp mọi dấu hiệu phản kháng trong nước. Đức tin tử vì đạo và nước Cộng hòa Hồi giáo bị cô lập Theo nhiều nhà quan sát, chế độ Hồi giáo Iran đã sẵn sàng chuẩn bị cho một cuộc xung đột kéo dài với Mỹ và các đồng minh, với « cường độ thấp », « bất chấp cái giá rất lớn mà người dân thường Iran phải gánh chịu » (Bernard Hourcade). Cuộc chiến chống Mỹ và Israel hiện nay của chế độ thần quyền Hồi giáo Iran được nhiều người trong hệ thống nhìn nhận như sự tiếp nối của truyền thống độc lập, sẵn sàng đương đầu tất cả các đại cường ngay từ ngày đầu chế độ. Ông Hossein Kanani Mogahddam, thành viên Hội đồng lãnh đạo Vệ binh Cách mạng (1980-1988) (trong bộ phim tài liệu « Vệ binh Cách mạng, chủ nhân của Iran », của Arte), kể lại : « Tất cả các cường quốc đều hậu thuẫn chế độ Saddam Hussein, Mỹ, Liên Xô, Pháp…, và còn nhiều nước khác. Trong giai đoạn này, chúng tôi hoàn toàn không có vũ khí, trang bị gì cả. Không có pháo, không có xe tăng, máy bay... Chúng tôi không có phương tiện để tiến hành một cuộc chiến tranh. Chính đức tin đã cứu giúp chúng tôi. Chúng tôi không có thực phẩm, không có cả đồ hộp cho binh sĩ ! » Chuyên gia Théo Ne...

Năm 2026, chiến tranh Ukraina bước sang năm thứ năm. Bất chấp các trừng phạt của phương Tây, kinh tế Nga vẫn chưa sụp đổ như phát biểu của nhiều nhà lãnh đạo châu Âu trước đây. Dù vậy, tổng thống Nga Vladimir Putin hôm 04/02/2026, trong một cuộc họp về các vấn đề kinh tế, thừa nhận tăng trưởng kinh tế năm 2025 chỉ ở mức 1%, thấp hơn nhiều so với những năm đầu cuộc chiến. Phải chăng các lệnh trừng phạt của phương Tây giờ bắt đầu có hiệu quả ? Nga hiện là quốc gia bị phương Tây trừng phạt nặng nề nhất, hơn cả Iran và Bắc Triều Tiên. Riêng Liên Hiệp Châu Âu đã ban hành 19 gói trừng phạt nhắm vào Nga. Có hai loại đối tượng bị trừng phạt: Thứ nhất là các cá nhân như tổng thống Nga, các chỉ huy nhóm Wagner hay nhà tỷ phú Roman Abramovic ; thứ hai là các thực thể như ngân hàng, các chính đảng, hãng truyền thông và nhất là các doanh nghiệp. Để hiểu được hiệu quả của trừng phạt của phương Tây, các nhà phân tích tập trung vào nhóm đối tượng thứ hai do vai trò vĩ mô kinh tế của chúng, ở ba khía cạnh của các lệnh trừng phạt : Tài chính, Công nghệ - thương mại và Năng lượng. Trừng phạt tài chính Vào thời điểm Nga phát động "chiến dịch quân sự đặc biệt" xâm lược Ukraina tháng 02/2022, các hoạt động kinh tế Nga có một giai đoạn bị đóng băng. Trả lời Les Echos, nhà kinh tế học Julien Vercueil, chuyên gia về Nga, Viện Ngôn ngữ và Văn minh phương Đông Quốc gia (INALCO), nhận định hiện tượng này không hẳn là do các lệnh trừng phạt mà là do cú sốc và sự bất ổn đi kèm với biến cố địa chính trị quy mô lớn : « Trong tình huống này, phản xạ đầu tiên của các tác nhân kinh tế, doanh nghiệp, hộ gia đình, các nhà đầu tư nước ngoài hay trong nước, … là bảo vệ tiền tiết kiệm của mình. Và do vậy, chúng phải được đưa ra ngoài lãnh thổ Nga. Đây là những gì họ làm ngay từ tháng 01/2022, trước khi có chiến tranh. Người ta đã chứng kiến trong quý I/2022 hiện tượng rút vốn ồ ạt lớn chưa từng có ở Nga trước đây. » Quá trình tháo chạy vốn tăng nhanh sau khi những trừng phạt tài chính đầu tiên được thực thi : Hạn chế khả năng tiếp cận thị trường vốn quốc tế của Nga, loại các ngân hàng Nga khỏi hệ thống SWIFT (Hiệp hội Viễn thông Tài chính Liên ngân hàng Toàn cầu) và phong tỏa 210 tỷ đô la tài sản Nga ở châu Âu. Tuy nhiên, chính quyền Nga cũng đã có những phản ứng nhanh chóng, ngăn chặn sự sụp đổ của hệ thống tài chính, chẳng hạn như ra lệnh đóng cửa sàn chứng khoán Matxcơva và áp đặt kiểm soát ngoại hối nghiêm ngặt, có nghĩa là người dân Nga không thể đổi rúp sang đô la. Kết quả là Nga đã nhanh chóng hồi hương vốn, giúp cân bằng và giảm bớt sự dịch chuyển, « tháo chạy vốn tự phát », theo như nhận định của Julien Vercueil. Phản ứng cứng rắn này của chính quyền Nga đã giảm tác động các trừng phạt, cứu hệ thống tài chính Nga khỏi sự sụp đổ. Giai đoạn bất ổn và trừng phạt ban đầu này, tất nhiên, đã làm chậm lại nền kinh tế Nga vào năm 2022. Nhưng ngay từ năm 2023, tăng trưởng phục hồi nhờ hiệu ứng kết hợp giá dầu thế giới tăng và sự chuyển đổi sang nền kinh tế chiến tranh, thúc đẩy chi tiêu công đặc biệt là trong lĩnh vực quốc phòng. Trừng phạt thương mại Loại trừng phạt thứ hai là cấm xuất khẩu sang Nga các sản phẩm trong những lĩnh vực trọng yếu như vận tải, hàng không, hàng xa xỉ hay công nghiệp quốc phòng. Mục đích là kềm chế năng lực công nghiệp và làm suy yếu Nga nhiều hơn. Theo Ủy Ban Châu Âu, kể từ tháng 02/2022, Liên Hiệp Châu Âu đã cấm xuất khẩu hàng hóa và công nghệ sang Nga với tổng giá trị ước tính là hơn 48 tỷ euro, tức chiếm khoảng hơn một nửa tổng kim ngạch xuất khẩu của Liên Âu trước chiến tranh. Qua phân tích các dữ liệu của Global Trade Tracker liên quan đến các hoạt động xuất – nhập khẩu của Nga, hai nhà kinh tế học Kevin Lefèvre và Charlotte Emlinger tại Trung tâm Nghiên cứu Triển vọng và Thông tin Quốc tế (CEPII) cùng kết luận là « khoảng một phần ba các sản phẩm bị trừng phạt đã được bù đắp từ các quốc gia không áp dụng trừng phạt ». Đặc biệt, các nhà nghiên cứu còn nhận thấy « khoảng 2/3 trong số 50 sản phẩm bị trừng phạt bởi một liên minh lớn các nước, bao gồm cả Liên Hiệp Châu Âu và Hoa Kỳ, đã được bù đắp từ nhiều nước khác. » Để có được những mặt hàng bị cấm đó, Nga thực hiện hai phương pháp : Hoặc tìm nhà cung cấp ở các quốc gia không áp dụng lệnh trừng phạt như Trung Quốc, đã trở thành đối tác thương mại hàng đầu của Nga từ đầu cuộc chiến. Hoặc những hàng hóa này được xuất khẩu từ những nước thực thi lệnh trừng phạt sang các quốc gia trung gian, gần với Nga như Thổ Nhĩ Kỳ hay Armenia, những nước không áp đặt lệnh trừng phạt, và sau đó chúng được tái xuất khẩu sang Nga. Sự lách luật này của Nga không có nghĩa là các đòn trừng phạt không có hiệu quả. Trên thực tế, Matxcơva không nhất thiết tìm được những sản phẩm có chất lượng tương đương ở các nhà cung cấp mới. Và nhất là họ phải mua đắt hơn những sản phẩm nhập khẩu đó, kể cả những mặt hàng không bị trừng phạt. Theo khảo sát, kể từ khi nổ ra chiến tranh, giá nhập khẩu của Nga tăng trung bình 13% so với giá nhập khẩu của phần còn lại của thế giới, và tăng 22% đối với hàng nhập khẩu từ các nước không trừng phạt Nga. Mức tăng này có thể lên đến hơn 120% đối với những mặt hàng chiến lược được dùng trên chiến trường Ukraina. Như vậy, các trừng phạt này có tác động trực tiếp đến chi phí chiến tranh của Nga, và chúng còn có một chi phí tiềm ẩn : Sự phụ thuộc của Nga vào một số đối tác mới khi Nga muốn bán hàng hóa của mình ra thế giới. Đây chính là những gì diễn ra đối với dầu hỏa của Nga. Trừng phạt năng lượng Trước chiến tranh, năm 2021, dầu khí của Nga chiếm gần một nửa tổng kim ngạch xuất khẩu của Nga (46%). Chiến tranh bùng nổ, Liên Hiệp Châu Âu ban hành một số biện pháp cứng rắn : Cấm nhập khẩu dầu thô và các sản phẩm chế biến từ dầu Nga qua đường hàng hải, cấm nhập khẩu khí đốt hóa lỏng kể từ năm 2027, và áp đặt mức giá trần đối với các doanh nghiệp bán dầu hỏa Nga là 44,10 đô la/thùng, có hiệu lực từ ngày 01/02/2026. Hệ quả là, theo chuyên gia kinh tế Kevin Lefèvre, « Nga không còn có thể xuất khẩu tất cả các mặt hàng của mình, nhất là các sản phẩm năng lượng sang Liên Hiệp Châu Âu và Hoa Kỳ, và do vậy nước này, phải chuyển hướng xuất khẩu sang các nước khác, vốn yêu cầu một mức giá thấp hơn nhiều để có thể mua tất cả các sản phẩm tái xuất khẩu này. Điều này có nghĩa là nguồn thu cho nền kinh tế Nga ít hơn trước. Hơn nữa, tác động này còn trầm trọng hơn do các lệnh trừng phạt của châu Âu, yêu cầu các công ty vận tải dầu hỏa phải giữ giá dầu ở mức thấp hơn khoảng 15% so với giá thị trường, làm giảm thêm doanh thu cho nền kinh tế Nga ». Chỉ có điều tuy những trừng phạt này ảnh hưởng trực tiếp đến cốt lõi mô hình kinh tế Nga, nhưng trong hai năm 2023 và 2024, giá dầu thế giới cao đã bù đắp cho mức sụt giảm xuất khẩu vì các lệnh trừng phạt. Chuyên gia về Nga, ông Julien Vercueil cho rằng, « tác động của giá cả chiếm ưu thế hơn so với tác động về số lượng. Và do vậy, Nga được hưởng lợi rất nhiều từ thặng dư thương mại và thặng dư tài khoản vãng lai, giúp nước này phục hồi khá nhanh chóng với tốc độ tăng trưởng trên 4% ». Ngoài ra, Nga còn thực hiện nhiều chiến thuật để né tránh các lệnh trừng phạt và bán dầu hỏa của mình thông qua các công ty ảo và đội tầu ma nổi tiếng. Nhưng tình hình đã trên nên khó khăn hơn vào năm 2025 khi giá dầu thế giới giảm, đồng rúp tăng giá, và nhất là Mỹ ban hành trừng phạt nhắm vào hãng dầu chính của Nga là Rosneft và Lukoil, khiến nguồn thu từ dầu khí của Nga sụt giảm mất 25% so với năm 2024. Theo nhận xét của Julien Vercueil, « đặc điểm chính của các lệnh trừng phạt Mỹ là được thực thi khá nhanh chóng. Và đó là điểm khiến những biện pháp này trở nên khó khăn hơn nhiều cho những bên muốn né tránh chúng. Vì vậy, đây là một mối đe dọa có thể nói là đáng lo hơn một chút so với một số mối đe dọa hoặc tuyên bố được nhiều quốc gia khác đưa ra ». Ấn Độ là một ví dụ điển hình. Từ lâu là một khách hàng lớn nhất của Nga, sau Trung Quốc, nhưng quốc gia Nam Á này đang dần chuyển hướng khỏi Nga để tránh các mức thuế cao của Mỹ. Nhìn vào tầm mức quan trọng doanh thu từ dầu khí của Nga, các lệnh trừng phạt gần đây cuối cùng dường như đã có tác động lớn hơn so với những năm đầu do giá cả thị trường thế giới giảm. Theo Financial Times, những đòn trừng phạt mới đã làm giảm tỷ trọng thu nhập năng lượng trong ngân sách Nga từ 50% xuống còn 24%, mức thấp nhất trong 10 năm. Để bù đắp, điện Kremlin đã phải tăng thuế TVA và các loại thuế khác đối với các doanh nghiệp nhỏ. Kinh tế Nga trì trệ Dù vậy, nhiều nhà quan sát cũng nhìn nhận là khó có thể khẳng định các biện pháp trừng phạt kinh tế có hiệu quả đối với Nga hay không. Giới chuyên gia cho rằng các lệnh trừng phạt đã bị luồn lách, nhưng điều đó cũng đang gây thiệt hại nặng nề cho Nga. Sau bốn năm chiến tranh, kinh tế Nga đang bị suy giảm đáng kể. Tăng trưởng rớt xuống chỉ còn 1% trong năm 2025, trong khi lạm phát tăng vọt và ngân sách Nhà nước bị thâm hụt. Tại Nga, ngày càng có nhiều nhà kinh tế bắt đầu thảo luận về vai trò của các lệnh trừng phạt trong những khó khăn kinh tế hiện nay. Một điều chắc chắn là tổng chi phí của các biện pháp trừng phạt và chiến tranh ngày càng thể hiện rõ đối với nền kinh tế Nga. Có thể nói, « chiến tranh cộng với các lệnh trừng phạt đã khiến Nga mất đi hai năm tăng trưởng ». Đúng là nền kinh tế Nga đang dần bị xói mòn, nhưng người ta chỉ có thể đánh giá hiệu quả của các trừng phạt trong dài hạn. Do vậy, chuyên gia kinh tế Kevin Lefèvre đưa ra kết luận : « Nếu mục tiêu là chấm dứt chiến tranh, thì đúng là những biện pháp trừng phạt đó không hiệu quả. Nếu mục tiêu là làm sụp đổ nền kinh tế Nga, thì chúng cũng không vận hành. Nhưng nếu mục tiêu là làm tăng chi phí chiến tranh cho Nga, thì đúng là chúng ta có bằng chứng cho thấy giá cả hàng nhập khẩu sẽ tăng, chất ...

Ít tháng sau khi đắc cử năm 2017, tổng thống Pháp Emmanuel Macron đã quyết định cùng Đức thúc đẩy dự án phát triển hệ thống chiến đấu cơ đời mới SCAF, với mục tiêu nâng cao năng lực quốc phòng tự chủ của châu Âu, trong bối cảnh quan hệ với đồng minh truyền thống Hoa Kỳ thời Donald Trump hứa hẹn những sóng gió chưa từng có với châu Âu. Tám năm sau, cuối 2025, đầu năm 2026, bất đồng chồng chất giữa hai tập đoàn Dassault và Airbus Defence and Space, hai cơ sở đặc trách thực thi dự án, khiến SCAF nay bên bờ tan vỡ. Theo giới chuyên gia, nếu xảy ra, đây sẽ là một tổn thất vô cùng lớn không chỉ cho hợp tác Pháp – Đức, bởi dự án hệ thống chiến đấu cơ SCAF của Pháp và Đức, với sự tham gia của Tây Ban Nha sau đó, được kỳ vọng sẽ trở thành một trụ cột của nền quốc phòng tự chủ của Liên Âu trong tương lai. Liệu Paris và Berlin có vượt qua được các thách thức đó? SCAF: Dự án trọng tâm của nền công nghiệp quốc phòng châu Âu Kế hoạch phát triển chiến đấu cơ tối tân thế hệ thứ 6 (NGF), thuộc dự án mang tên Hệ thống Tác chiến Trên không Tương lai (SCAF - Système de combat aérien du futur), được tổng thống Pháp Emmanuel Macron và thủ tướng Đức Angela Merkel khởi xướng vào năm 2017, với vốn đầu tư ước tính 100 tỉ đô la. Tây Ban Nha tham gia dự án hai năm sau. Phi cơ SCAF được kỳ vọng sẽ thay thế các chiến đấu cơ Rafale (Pháp) và Eurofighter (Anh, Ý, Đức và Tây Ban Nha hợp tác chế tạo) từ năm 2040. Theo thỏa thuận, Pháp chủ trì dự án chung, Đức và Tây Ban Nha mỗi bên dự kiến đóng góp một phần ba kinh phí. Các căng thẳng ngày càng gia tăng với chính quyền Trump nhiệm kỳ 2, trong bối cảnh lực lượng không quân của châu Âu nhìn chung phụ thuộc nặng nề vào chiến đấu cơ Mỹ, cho thấy về nguyên tắc, kế hoạch độc lập phát triển hệ thống chiến đấu cơ đời mới để châu Âu hướng đến tự chủ về quốc phòng là cần thiết. Tuy nhiên, từ nhiều tháng nay, dự án dẫm chân tại chỗ. Ngày 18/02/2026, chính quyền Đức lần đầu chính thức thừa nhận nhiều bất đồng song phương về tiêu chuẩn kỹ thuật không thể vượt qua, đồng thời gợi ý, để có thể duy trì, dự án Hệ thống Tác chiến Trên không Tương lai SCAF cần được điều chỉnh, để mỗi bên hướng đến độc lập chế tạo riêng một chiến đấu cơ, bởi nhu cầu của Pháp khác với Đức. Pháp dự trù phi cơ này được sử dụng với vũ khí hạt nhân, trong lúc với Đức thì đây chỉ thuộc lĩnh vực vũ khí quy ước. Dassault muốn giữ bí mật công nghệ, Airbus muốn tham gia sâu rộng Tuyên bố của thủ tướng Đức Frederic Merz, trên thực tế, đã phơi bày bất đồng sâu sắc giữa hai tập đoàn Dassault (đại diện cho Pháp) và Airbus (đại diện cho Đức và Tây Ban Nha) tồn đọng từ lâu. Căng thẳng lên đến đỉnh điểm hồi cuối năm ngoái, khi Dassault khẳng định có thể một mình hoàn tất việc chế tạo chiến đấu cơ SCAF, còn Airbus cho biết Dassault, nếu muốn, có thể rời bỏ dự án Hệ thống Tác chiến Trên không Tương lai. Trả lời truyền thông Pháp, chủ tịch tập đoàn Dassault, Eric Trappier, nhấn mạnh : « Chúng tôi có đủ năng lực để làm điều đó. Nếu họ muốn tự làm, thì hãy cứ để họ tự làm ! Chúng tôi chỉ yêu cầu có một điều nhỏ thôi ! Hãy cho chúng tôi quyền quản lý chương trình. Nói một cách khác, về mặt quản trị, tôi sẽ không chấp nhận việc đại diện của ba bên ngồi quanh bàn quyết định tất cả các khía cạnh kỹ thuật cần thiết để vận hành một chiếc phi cơ tối tân như vậy ! » Ông Xavier Tytelman, cố vấn về hàng không và không gian, coi bí mật công nghệ là bất đồng chủ yếu, không thể vượt qua được giữa hai tập đoàn Pháp và Đức: « Vấn đề là ba quốc gia này không có cùng một loại năng lực chuyên môn. Pháp, với máy bay Rafale, là quốc gia châu Âu duy nhất thực sự tự phát triển được một loại máy bay, hoàn toàn từ A đến Z. Trong khi đó, Đức chỉ nắm được khoảng 1/3 công nghệ chế tạo phi cơ Eurofighter, cùng với Anh, Tây Ban Nha và Ý. Đức muốn tham gia phát triển 30% máy bay chiến đấu thế hệ thứ 6 SCAF này. Nhưng khi ta nói với họ về 30% công việc, thì không phải chỉ là với lĩnh vực tác chiến điện tử và trí tuệ nhân tạo, mà họ muốn nắm 30% của mọi thứ. Ví dụ như hệ thống điều khiển bay, lĩnh vực mà Dassault đã là nhà sản xuất hàng đầu thế giới, kết quả của hàng chục năm tìm tòi, nghiên cứu. Phía Đức muốn tham gia 30%, nhưng điều đó đồng nghĩa với việc họ có quyền truy cập vào toàn bộ mã nguồn và về mặt logic, điều đó sẽ dẫn đến việc bí mật công nghiệp bị tước đoạt, gây thiệt hại cho Pháp và Dassault. Vì vậy, có sự bất đồng giữa Pháp, quốc gia không muốn đánh mất công nghệ, cùng Dassault, công ty đang bảo vệ một cách quyết liệt thành quả công nghiệp nửa thế kỷ của mình, và phía bên kia là Đức, tin rằng bất luận thế nào, Pháp không thể làm được nếu thiếu Đức, vì vậy sẽ buộc phải nhân nhượng các bí mật công nghiệp. » Thay đổi lớn mới đây trong « tương quan lực lượng » Pháp – Đức Những thách thức trong việc duy trì hợp tác Pháp – Đức trong dự án công nghệ quốc phòng này không chỉ liên quan đến các bất đồng về bí mật công nghệ giữa hai tập đoàn Dassault và Airbus, mà còn liên quan đến bối cảnh chung rộng lớn hơn. Đó là nước Đức đang trên đường nhanh chóng trở thành một cường quốc quân sự, trong lúc cho đến gần đây, Berlin vẫn tự khẳng định chỉ là « một cường quốc tế kinh tế » và Paris mới là « một cường quốc ngoại giao và quân sự ». Bên cạnh đó, lĩnh vực công nghiệp của nước Đức cũng đang trải qua những khó khăn chồng chất gây nhiều căng thẳng trong nước. Đọc thêm : SCAF - “Chiến đấu cơ tương lai” vẫn là tàu bay giấy vì bất đồng Pháp-Đức Ông Paul Maurice, chuyên gia về quan hệ Pháp – Đức, thuộc Viện Pháp về quan hệ quốc tế IFRI, trong bài trả lời phỏng vấn báo La Croix, đăng ngày 23/02/2026, nhấn mạnh những thay đổi nói trên đang làm chuyển dịch « tương quan lực lượng » (rapport de force) giữa hai nước. Các bất đồng Pháp – Đức trong dự án SCAF vốn đã không ít, trong bối cảnh này lại càng trở nên các chủ đề nhạy cảm hơn trong quan hệ song phương. Nguyên nhân căn bản nhất : Các bất đồng về « nhu cầu chiến lược » Tuy nhiên, các bất đồng về « các nhu cầu chiến lược » dường như là lý do căn bản có thể khiến dự án SCAF đổ vỡ hoàn toàn. Chuyên gia Paul Maurice, Viện IFRI, nêu bật vấn đề này : « Đó là một dự án phức tạp ngay từ đầu. Vì nhiều lý do. Các nhu cầu về chiến lược (besoins stratégiques) dường như đã chưa được xác định rõ ràng. Sự tham gia của Tây Ban Nha vào dự án năm 2019 đã không giải quyết được vấn đề phân chia nhiệm vụ. Tập đoàn Dassault rõ ràng không phải là một đối tác dễ chơi, nhưng phía Đức cũng phản ứng quá nặng nề với Dassault. Tất cả những điều này đều phức tạp, nhưng không phải là mới. Điều mới hiện nay là dự án hiện đang bị chỉ trích ở cấp độ chính trị. Mà Hệ thống Tác chiến Trên không Tương lai này (SCAF) trước hết và trên hết là một dự án chính trị. Cho đến gần đây, hai bộ trưởng quốc phòng Đức và Pháp, ông Boris Pistorius và ông Sébastien Lecornu, nay là thủ tướng, vẫn ủng hộ và thúc đẩy dự án, bất chấp những khó khăn về hành chính và công nghiệp. Nhưng một khi đồng thuận về chính trị mất đi, mọi việc sẽ trở nên khó khăn hơn nhiều. » Pháp và Đức từng vượt qua những khó khăn tưởng chừng bất khả Ông Guillaume Faury, giám đốc điều hành của tập đoàn Airbus, đại diện cho Đức và Tây Ban Nha, trong cuộc trả lời phỏng vấn đài Pháp BFM Business, đăng tải ngày 20/02/2026, ít ngày sau tuyên bố của thủ tướng Đức, đã ghi nhận tình trạng bế tắc khó khai thông hiện nay của dự án SCAF. Nhưng lãnh đạo Airbus cũng bày tỏ hy vọng các trở ngại rút cục sẽ phải được vượt qua, bởi đây là một dự án hết sức quan trọng đối với chiến lược quốc phòng của châu Âu : « Chắc chắn là chúng ta đang chật vật trong việc tìm hướng đi phía trước. Nhiều mối quan hệ đã bị phá vỡ. Sự phức tạp về mặt quản trị gia tăng theo thời gian, trong một chương trình rất lớn phục vụ Đức, Pháp và Tây Ban Nha, với những kỳ vọng nhiều khi mang tính cạnh tranh, hoặc liên quan đến mục đích sử dụng khác nhau. Ví dụ như một máy bay chiến đấu sẽ có thể được mỗi...

Can thiệp quân sự chớp nhoáng vào Venezuela, đe dọa sáp nhập quần đảo Groenland, gây áp lực mạnh đối với Colombia và Cuba, tổng thống Mỹ Donald Trump đã có một cách chào đón năm mới 2026 khiến thế giới sững sờ. Nhưng những gì ông Trump đang làm đều tuân theo một lô-gic kép : Đầu tiên là chủ nghĩa bành trướng của Mỹ và tiếp đến là thiết lập một trật tự địa chính trị mới trên phạm vi toàn cầu. Thế giới quan này của Mỹ không phải là điều gì mới mẻ. Sử gia Pierre Singaravélou nói đến « sự trở lại và tiếp tục của chủ nghĩa thực dân, một làn sóng chủ nghĩa đế quốc mới của Mỹ » (France 5 ngày 11/01/2026). Nhà địa chính trị học Florian Louis nhắc lại Hoa Kỳ về cơ bản là « một quốc gia thực dân » (Les Echos ngày 18/01/2026). Hoa Kỳ : « Quốc gia thực dân » Nhìn lại lịch sử, xuất phát từ 13 thuộc địa cũ ở bờ đông Bắc Mỹ vào thời điểm Anh Quốc công nhận độc lập vào năm 1783, Hoa Kỳ đã dần « mở rộng bờ cõi về phía Tây » bằng mọi cách cần thiết, chủ yếu theo hai phương pháp chính : Bạo lực chống lại các cộng đồng bản địa, các cường quốc thực dân cũ, Pháp cùng Vương quốc Anh và Tiền bạc cho tất cả những điều còn lại. Nếu nhìn kỹ trên bản đồ, những cuộc chinh phục lãnh thổ đó chỉ mở rộng sang phía Tây và lên phía Bắc, như mua bang Louisiana năm 1803, Florida năm 1819, các bang Tây Nam nước Mỹ thuộc phía bắc Mêhicô lần lượt trong các năm 1848 và 1853, hay đợt mua lãnh thổ quan trọng sau cùng là bang Alaska năm 1867, mà chưa bao giờ mở rộng xuống hẳn phía nam bán cầu. Do vậy, việc đòi mua Groenland là hoàn toàn phù hợp với đường lối này trong lịch sử Hoa Kỳ. Giảng viên Florian Louis, trường Đại học Sư phạm, biên tập viên trang địa chính trị Le Grand Continent, trong mục Plan Carte của Les Echos, giải thích: « Hoa Kỳ tỏ ra rất do dự về việc mở rộng bờ cõi xuống phía nam. Họ tìm cách mở rộng ảnh hưởng, thế thống trị hơn là mở rộng lãnh thổ (…) Ở phía nam, không có điều mà Mỹ gọi là những người WASP (viết tắt của White Anglo-Saxon Protestant), tức người da trắng gốc Anh theo đạo Tin Lành. Đây là khu vực của những người Công Giáo gốc La-tinh, người lai. Và điều đó từ lâu khiến người Mỹ sợ hãi và vẫn tiếp tục khiến nhiều người trong số họ lo sợ, đặc biệt là Donald Trump ». « Tây bán cầu »: Sân sau của Mỹ ! Quả thật, tổng thống Mỹ Donald Trump chỉ nói đến sáp nhập hay xâm chiếm Canada, Groenland, nhưng cho xây tường ở biên giới giữa Mỹ và Mêhicô. Rõ ràng là có những nơi để sáp nhập và có những nơi chỉ để thống trị. Và một trong những giải pháp để duy trì uy lực của Mỹ là một hình thức co cụm, không phải khép mình thành một nước biệt lập, mà là vào toàn bộ lục địa châu Mỹ. Thế nên mới có khái niệm khác quan trọng hơn : « Bán cầu » ! Giáo sư địa lý Vincent Capdepuy, chuyên gia về đồ họa, trả lời Les Echos lưu ý khái niệm « bán cầu » đã có từ xa xưa. Những bản vẽ đồ họa cổ nhất do thầy tu và nhà đồ họa Franciscus Monacus công bố năm 1524 cho thấy hai bản đồ nhỏ được đặt đối diện nhau, hai quả địa cầu, hai bán cầu với hai tiêu đề khác nhau : « Bên trái là một quả địa cầu tượng trưng điều mà người ta có thể gọi là lục địa Âu – Á – Phi, tức bao gồm châu Âu, châu Phi và châu Á. Ở trang bên phải, chúng ta có một địa cầu hình bán cầu khác tượng trưng cho châu Mỹ hoặc ít nhất những gì người ta biết về bán cầu này vào đầu thế kỷ XVI. Một bên ghi "Bán cầu này của thế giới phục tùng vua Bồ Đào Nha" và bên kia ghi "Bán cầu này của thế giới phục tùng vua Tây Ban Nha" ». Như vậy, ngay từ đầu thế kỷ 16, người ta đã có một thế giới quan địa chính trị phân chia địa cầu thành Đông và Tây. Và đây chính là tầm nhìn của Mỹ, tin rằng thế giới được phân chia thành Đông và Tây, chứ không phải giữa Bắc và Nam. Thuật ngữ « bán cầu » từ đó đã xuất hiện trong học thuyết Monroe nổi tiếng, về cơ bản quy định rằng mỗi lục địa nên ở yên trong vị trí của mình. Năm 1904, tổng thống Théodore Roosevelt còn bổ sung một hệ luận cho học thuyết này khi nhiều lần dùng đến thuật ngữ « Tây bán cầu », trở thành một trong những diễn ngôn chiến lược của Mỹ trong suốt nhiều thập niên sau đó, như cho thành lập Văn phòng Phụ trách các Vấn đề Tây bán cầu năm 1999, Cục phụ trách các Vấn đề Tây bán cầu trực thuộc Hội đồng An ninh Quốc gia năm 2001, và gần đây nhất tái cơ cấu quân đội Mỹ với việc thành lập Bộ Tư lệnh Tây bán cầu tháng 12/2025. Theo phân tích Florian Louis, chính trong lô-gic Tây bán cầu mà người ta có thể tìm thấy nguồn gốc của chủ nghĩa biệt lập Mỹ : « Trên thực tế, người ta có thể tìm thấy nguồn gốc của chúng trong phát biểu chia tay nổi tiếng của George Washington vào cuối nhiệm kỳ tổng thống của ông. Trong bài phát biểu này, nói một cách đơn giản, ông nói với người dân Mỹ rằng "những rắc rối của châu Âu là vấn đề của họ, của người dân châu Âu. Tốt nhất là chúng ta chớ nên can thiệp vào đó, chúng ta ở rất xa châu Âu". Đây chính là nguồn gốc của điều mà người ta có thể gọi là chủ nghĩa biệt lập Hoa Kỳ ». Xét cho cùng, thế giới là một đại dương bao la với hai hòn đảo, một đảo cực lớn, có thể được gọi là Á-Âu, và một hòn đảo nhỏ hơn tức châu Mỹ. Hai vùng biển Đại Tây Dương và Thái Bình Dương giống như những con hào bảo vệ pháo đài châu Mỹ với một loại thành trì ở trung tâm là Hoa Kỳ khỏi phần còn lại của thế giới, tức là Á-Âu. Trong nhãn quan này, tự cô lập với phần còn lại của thế giới và tập trung vào lục địa châu Mỹ vừa là cách để củng cố thế thống trị của Mỹ, vừa để tự bảo vệ mình. Như vậy, trên phương diện địa chính trị toàn cầu, những hành động gần đây của chính quyền Trump là một bước ngoặt thực sự so với những gì Hoa Kỳ đã quen làm đối với châu Âu từ sau Đệ Nhị Thế Chiến. Theo nhà địa chính trị học Florian Louis, đây là « một kiểu thoái lui của sức mạnh Mỹ, không còn tập trung bảo đảm an ninh thế giới như đã từng làm, ít nhất là từ sau Thế Chiến Thứ Hai, mà là tập trung bảo đảm an ninh cho toàn bộ lục địa châu Mỹ ». Chủ nghĩa đế quốc tài nguyên Nhưng bước thứ hai trong chiến lược gia tăng ảnh hưởng, kiểm soát an ninh tại châu lục mới là điều quan trọng. Hoa Kỳ sẽ phải tăng tốc can thiệp vào toàn bộ châu lục như những gì đã diễn ra vào đầu năm mới 2026 : Từ bắt cóc tổng thống Venezuela Nicolas Maduro, đòi sáp nhập quần đảo Groenland, đến đe dọa Cuba và Colombia… Mục tiêu là nhằm chứng tỏ Hoa Kỳ đang ở trong sân nhà của mình tại châu Mỹ và họ có thể làm bất cứ điều gì mình muốn. Điều này cũng chẳng phải là mới. Trong quá khứ, giai đoạn 1898 – 1994, Mỹ đã hơn 40 lần can thiệp cả trực tiếp lẫn gián tiếp vào Nam Mỹ, dẫn đến việc thay đổi các chính phủ. Tuy nhiên, điểm mới nhất hiện nay là Washington không dung thứ cho một sự can thiệp nào từ các cường quốc khác vào lục địa. Khi nói về việc Trung Quốc kiểm soát kênh đào Panama và biện minh cho việc đòi sáp nhập Groenland, nguyên thủ Mỹ còn có một dụng ý : Ngăn chặn Trung Quốc chiếm giữ các nguồn tài nguyên thiên nhiên ! Nói một cách khác, quyền tiếp cận các nguồn tài nguyên thiên nhiên dường như đang là kim chỉ nam cho xu hướng địa chính trị mới. Hoa Kỳ can thiệp để chiếm đoạt tài nguyên thiên nhiên không phải là điều bí mật, nhưng chưa bao giờ thừa nhận. Trong vụ Venezuela, tổng thống Trump công khai tuyên bố can thiệp để kiểm soát tài nguyên. Hành động này còn nhằm mục đích ngăn chặn các nước khác làm điều tương tự. Chiến lược này đã được ngoại trưởng Mỹ Marco Rubio giải thích rõ vào ngày 05/01/2026 trên kênh truyền hình NBC, khi một lần nữa viện dẫn đến khái niệm về « Tây bán cầu » : « Hoa Kỳ đâu cần đến dầu mỏ của Venezuela. Thứ này có rất nhiều ở Mỹ. Điều mà Hoa Kỳ sẽ không cho phép là ngành công nghiệp dầu khí của Venezuela lại do các đối thủ của Mỹ kiểm soát. Quý vị có hiểu là tại sao Trung Quốc cần đến dầu hỏa Venezuela ? Vì sao Nga cần đến nguồn nhiên liệu này ? Và cả Iran nữa. Tại sao ? Những nước đó thậm chí không nằm trên lục địa này. Đây là Tây Bán Cầu, là nhà của chúng ta ! » Donald Trump cùng nhiều nhân vật khác cho rằng chỉ kiểm soát hạ tầng cơ sở, bảo đảm tự do thương mại như trước đây là chưa đủ, mà « phải đi trước một bước, chiếm đoạt lãnh thổ, nắm giữ quyền chủ quyền đối với chúng để bảo đảm nguồn cung cấp », theo như phân tích của nhà nghiên cứu Florian Louis với nhật báo Les Echos, trong mục Plan Carte. Nhưng đâu chỉ có ở Tây Bán cầu, Donald Trump không để các đối thủ lớn khác theo đuổi các lợi ích của họ một cách tùy ý. Tại châu Phi, Hoa Kỳ tài trợ các dự án đường sắt tại một số nước để đưa khoáng sản thiết yếu về phía các cảng ở bờ tây của lục địa. Điều này cho thấy Hoa Kỳ thời Donald Trump không hẳn co cụm trong phần lục địa của mình, vì điều đó có tạo cơ hội cho các tác nhân khác, đặc biệt là Nga và Trung Quốc, mở rộng vùng ảnh hưởng của họ. Donald Trump và ba đế chế Câu hỏi đặt ra ở đây là phải chăng thế giới của Trump được chia thành ba đế chế : Mỹ, Nga và Trung Quốc ? Theo quan điểm của Benahouda Abdelaim, cây bút xã luận địa chính trị của Les Echos, Donald Trump chỉ hình dung ra một đế chế và vài đế chế nhỏ hơn. « Ông ấy chỉ hình dung ra đế chế Mỹ ở Tây bán cầu. Trên thực tế, Trump phản đối bất kỳ đế chế nào xâm phạm lãnh địa của mình, đặc biệt là đế chế Trung Quốc. Trump tin rằng bằng cách củng cố "sân sau" của mình, Hoa Kỳ sẽ ngăn chặn các cường quốc khác thách thức sự thống trị của Mỹ ở Tây bán cầu ». Trong suy nghĩ của Trump, có thể có ba đế chế, nhưng trên hết, có một thứ bậc giữa những đế chế này. Thế giới quan này của ông được trình bày rõ trong bản Chiến lược An ninh Quốc gia công bố hồi tháng 12/2025. Nga và Trung Quốc được đề cập rộng rãi như là những đối thủ cạnh tranh, hoàn toàn trái ngược với bản tóm tắt năm 2017 của chính quyền Trump I, chỉ trích hai nước này muốn định hình một trậ...

Ngày 05/02/2026, hiệp định kiểm soát vũ khí hạt nhân chiến lược Mỹ - Nga New Start hết hiệu lực. Washington và Matxcơva không triển hạn hiệp ước được coi là thỏa thuận cuối cùng về vũ khí hạt nhân giữa hai đại cường. Nhiều người lo ngại về nguy cơ chạy đua hạt nhân bùng phát. Hiệp định hạt nhân New Start, được ký kết tại Praha năm 2010 dưới thời tổng thống Mỹ Barack Obama và tổng thống Nga Dmitri Medvedev, liên quan đến việc kiểm soát các vũ khí hạt nhân tấn công chiến lược. Cụ thể là giới hạn số đầu đạn hạt nhân của mỗi nước là 1.550, và tổng số phương tiện dàn phóng và oanh tạc cơ, triển khai và chưa triển khai là 800. Hiệp ước New Start không bao gồm các vũ khí hạt nhân chiến thuật, tên lửa hành trình, tên lửa siêu thanh, cùng các vũ khí không gian, các phương tiện tấn công tin học. New Start: « Thế cân bằng chiến lược » mong manh thời hậu Chiến tranh Lạnh Hiệp định New Start được triển hạn thêm 5 năm kể từ 2021 và hết hạn hôm nay. Bất chấp các áp lực quốc tế, Nga và Mỹ rút cục đã không gia hạn hiệp ước quan trọng này. Tối hôm qua, 04/02, tại trụ sở Liên Hiệp Quốc, tổng thư ký Antonio Guterres cảnh báo đây là « một thời điểm nghiêm trọng đối với hòa bình và an ninh quốc tế », khi hai cường quốc sở hữu phần lớn kho vũ khí hạt nhân thế giới chấm dứt thỏa thuận pháp lý duy nhất ràng buộc hai bên, cho phép kiểm soát thế cân bằng về loại vũ khí răn đe mang tính hủy diệt này. Tình thế này vô cùng nguy hiểm, trong bối cảnh vũ khí hạt nhân ngày càng có nguy cơ bị sử dụng trong các xung đột. « Từ thời điểm sự cân bằng chiến lược này bị phá vỡ và nếu một cường quốc hạt nhân quyết định leo thang như điều chúng ta lo ngại với Nga trong bối cảnh chiến tranh ở Ukraina, sẽ có nguy cơ các sự kiện vượt khỏi tầm kiểm soát », theo Alain De Neve, nhà nghiên cứu tại Trung tâm Nghiên cứu An ninh và Quốc phòng Bỉ (IRSD) (bài « Đê vỡ »: nguy cơ xung đột hạt nhân gia tăng khi hiệp ước New START hết hiệu lực ngày 5/2, RTBF, ngày 02/02/2026). Cuộc chiến bốn ngày Ấn Độ - Pakistan hồi năm 2025 cho thấy vũ khí hạt nhân không hề bảo đảm là quốc gia sở hữu không bị tấn công. Cũng hôm qua, giáo hoàng Lêô XIV đưa ra cùng cảnh báo: « Ngày mai, Hiệp ước New START hết hạn. Hiệp ước, được ký kết năm 2010 bởi hai tổng thống Mỹ, Nga, đại diện cho một bước tiến quan trọng trong việc hạn chế sự phổ biến vũ khí hạt nhân. Tôi khẩn thiết kêu gọi tìm cách đảm bảo một sự tiếp nối cụ thể và hiệu quả. » Những hệ quả khi New Start chấm dứt: Lá chắn Golden Dome của Mỹ, Nga phát triển vũ khí tối tân mới… Việc Nga và Mỹ không triển hạn Hiệp định New Start có tác động ra sao đối với nguy cơ bùng phát chạy đua vũ trang, ông Daryl Kimball, giám đốc điều hành Hiệp hội Kiểm soát Vũ khí (Arms Control Association - ACA), trụ sở tại Washington D.C, thành lập từ năm 1971, giải thích: « Chúng ta đã đến tình trạng là, với việc hiệp ước này hết hạn, cả hai bên có thể, lần đầu tiên sau khoảng 35 năm, gia tăng tăng đáng kể số lượng vũ khí hạt nhân hiện có. Và điều này sẽ mở ra cánh cửa cho một cuộc chạy đua vũ trang nguy hiểm và không kiểm soát, không chỉ giữa Hoa Kỳ và Nga, mà còn liên quan đến Trung Quốc, quốc gia cũng đang tăng cường kho vũ khí hạt nhân, ít hơn nhưng vẫn rất nguy hiểm, để đáp trả hệ thống lá chắn tên lửa Golden Dome của Mỹ, bằng cách phát triển vũ khí tấn công đến mức làm bão hòa hệ thống, và tự tin có thể trả đũa bằng vũ khí hạt nhân. Điều này sẽ không giúp giảm bớt hoặc làm chậm lại cuộc chạy đua vũ trang hạt nhân. Trên thực tế, nó sẽ làm tăng tốc. Đây là điều chúng ta thực sự cần tập trung trong năm nay và những năm tiếp theo. Thời điểm này thực sự đánh dấu một bước ngoặt rất quan trọng, đưa chúng ta vào một thời kỳ cạnh tranh hạt nhân toàn cầu nguy hiểm và khó lường gấp bội, một thời kỳ mà chúng ta hoàn toàn chưa từng chứng kiến. » Số lượng vũ khí hạt nhân hiện có, chưa cần tăng thêm, đã đủ hủy hiệt nền văn minh nhân loại, theo nhiều chuyên gia. Với việc Nga, Mỹ không triển hạn New Start, nhân loại gần đại thảm họa hơn bao giờ hết. Không phải ngẫu nhiên mà với Đồng hồ Tận thế do các nhà khoa học nguyên tử (Bulletin of the Atomic Scientists - BAS) Mỹ lập ra, theo sáng kiến của nhà bác học Albert Einstein, để báo động nhân loại trước đe dọa sống còn (như bom nguyên tử, biến đổi khí hậu…), kim đồng hồ chỉ còn cách nửa đêm (tức giờ Tận Thế) có 85 giây, gần hơn 4 giây so với năm ngoái, gần nhất từ trước đến nay, hơn cả khi Mỹ và Liên Xô bên bờ vực chiến tranh hạt nhân. Vì sao Nga, Mỹ không đạt thỏa thuận triển khai tiếp New Start ? Vì sao Nga, Mỹ không đạt thỏa thuận triển khai tiếp New Start ? Về vấn đề này, phía Nga và Mỹ đưa ra những giải thích khác nhau. Phát ngôn viên điện Kremlin, Dmitri Peskov, một mặt thừa nhận mối nguy hiểm của việc không triển hạn Hiệp định New Start, mặt khác đổ lỗi cho phía Washington không đáp ứng sáng kiến của Matxcơva : « Quý vị đều biết rằng sáng kiến của Nga, được tổng thống Putin nêu rõ, vẫn đang được xem xét. Chúng tôi vẫn chưa nhận được bất kỳ phản hồi nào từ phía Mỹ về sáng kiến này. Thật vậy, thời gian đang trôi qua nhanh như chớp, và chỉ trong vài ngày nữa, thế giới có thể sẽ rơi vào tình trạng nguy hiểm hơn nhiều so với hiện tại. Trên thực tế, lần đầu tiên, Mỹ và Liên bang Nga, hai quốc gia sở hữu kho vũ khí hạt nhân lớn nhất thế giới, sẽ không có một văn kiện nền tảng nào để hạn chế và kiểm soát các kho vũ khí này. Chúng tôi hiểu rằng tình hình này là rất tồi tệ, rất tồi tệ đối với an ninh toàn cầu, đối với an ninh chiến lược. » Về phía Mỹ, ngoại trưởng Marco Rubio cho rằng nguyên nhân chính của việc New Start không được triển hạn là do Trung Quốc, một cường quốc hạt nhân đang lên, không chấp nhận tham gia đàm phán về một hiệp ước kiểm soát vũ khí hạt nhân mới : « Bạn biết đấy, tổng thống Donald Trump đã từng nói rõ rằng, để có được sự kiểm soát vũ khí thực sự trong thế kỷ 21, không thể làm bất cứ điều gì mà không bao gồm Trung Quốc, bởi vì nước này có một kho vũ khí hạt nhân khổng lồ và đang phát triển nhanh chóng.» Đối đầu hạt nhân: Từ lưỡng cực đang chuyển thành thế « tam cực » Đòi hỏi Trung Quốc tham gia vào một hiệp ước kiểm soát vũ khí hạt nhân là quan điểm của nhiều đời tổng thống Mỹ. Ông Robert Peters, nghiên cứu viên cao cấp về Răn đe chiến lược tại Trung tâm Allison, thuộc Heritage Foundation, trong một cuộc tọa đàm của Viện tư vấn The International Institute for Strategic Studies IISS, Luân Đôn, giải thích rõ hơn về ý nghĩa của việc Mỹ không muốn gia hạn New Start trong tình trạng hiện nay : « Quan điểm của tôi là việc để New START hết hạn có lợi cho Hoa Kỳ. Trong khi việc gia hạn New START chỉ là một thỏa thuận chính trị để tiếp tục các giới hạn hiện tại về đầu đạn hạt nhân chiến lược đã triển khai, mà không có cơ chế thanh tra vũ khí. Việc gia hạn mà không bao gồm các biện pháp thanh tra và xác minh mới, sẽ có lợi cho Nga và Trung Quốc, nhưng gần như chắc chắn không có lợi cho Hoa Kỳ, cũng như các đồng minh của chúng ta ở Ấn Độ-Thái Bình Dương, hoặc châu Âu. Trung Quốc là cường quốc hạt nhân phát triển nhanh nhất trên hành tinh. Họ đang chế tạo 100 đầu đạn mới mỗi năm và hiện có nhiều hầm chứa tên lửa đạn đạo ICBM nhiều hơn số hầm chứa các tên lửa ICBM của Hoa Kỳ. New START không giải quyết được điều này. New START cũng không giải quyết được 2.000 vũ khí hạt nhân phi chiến lược của Nga. Nhưng việc để New START hết hạn sẽ mang lại cho Hoa Kỳ một số lựa chọn. Nếu Hoa Kỳ tăng số đầu đạn hạt nhân trên mỗi ICBM từ một lên hai, điều này sẽ cho phép chúng ta đặt cả mục tiêu hạt nhân chiến lược của Trung Quốc và Nga vào tình trạng nguy hiểm mà không cần phải triển khai thêm tên lửa… ». 1.500 đầu đạn hạt nhân : Ám ảnh Mỹ, Nga về hiểm họa Trung Quốc Hiệp định New Start là hệ quả của thế « ổn định chiến lược », đã được hai đại cường hạt nhân Mỹ và Nga (kế thừa Liên Xô) đúc kết trong bối cảnh thế đối đầu lưỡng cực. Tuy nhiên, từ gần hai thập niên trở lại đây, Trung Quốc đang trên đường khẳng định như một cường quốc hạt nhân có tiềm lực lớn, không che giấu ý định sánh vai với Mỹ. Bruno Tertrais (Quỹ Nghiên cứu Chiến lược Pháp), chuyên gia hàng đầu về răn đe chiến lược, trong một nhận định hồi 2010, khi Mỹ - Nga đúc kết hiệp định New Start, đã nhấn mạnh « một trong các tiêu chuẩn để hiệp định này chọn con số 1.550 đầu đạn là do nỗi sợ của cả Nga và Mỹ rằng một ngày nào đó Trung Quốc có thể sánh vai với hai đại cường ». Theo một số dự đoán củ...

Ngày 23/01/2026, bộ Quốc Phòng Mỹ công bố Chiến lược Quốc phòng mới (NDS) cho 5 năm sắp tới, đặt trọng tâm vào việc thống trị Tây Bán Cầu thay vì mục tiêu lâu dài là đối đầu với Trung Quốc, đồng thời kêu gọi các đồng minh của Mỹ nên « tự lo » cho an ninh của mình, tuy vẫn cam kết duy trì hỗ trợ nhưng « có giới hạn ». Trước hết, trang CSIS (Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược Quốc tế) có trụ sở ở Mỹ, giải thích, Chiến lược Quốc phòng Quốc gia (NDS) là kết quả cuộc xem xét toàn diện, đáp ứng các yêu cầu của Quốc Hội theo đó, bộ trưởng Quốc Phòng phải công bố một « khuôn khổ chiến lược » để giải quyết các « nhiệm vụ ưu tiên của bộ Quốc Phòng » và « môi trường chiến lược giả định ». Trước năm 2018, quá trình xem xét này được gọi là « Đánh giá Quốc phòng bốn năm một lần » (QDR), thay cho thông lệ công bố các đánh giá chiến lược bốn năm một lần được bắt đầu với « Đánh giá từ Thấp đến Cao » (BUR) thời chính quyền Clinton năm 1993. Chiến lược Quốc phòng Quốc gia 2026 (NDS 2026), dài 34 trang, cho thấy có những thay đổi căn bản trong cách đánh giá. Truyền thông Pháp nói đến « một bước rẽ lớn » của chính quyền Trump II so với nhiệm kỳ I. Trọng tâm chiến lược xoay quanh bốn trục chính được đặt theo một thứ tự ưu tiên rất rõ ràng. Tây Bán Cầu ưu tiên tuyệt đối Thứ nhất, chính quyền Trump II coi việc bảo vệ nghiêm ngặt lãnh thổ quốc gia là một ưu tiên tuyệt đối. Và trên hết, điều này gắn liền với thế thống trị của Mỹ ở Tây Bán Cầu, tức toàn bộ châu lục châu Mỹ, đi từ Goenland (ở Bắc Cực) đến tận Tierra del Fuego, vùng Đất Lửa (ở Nam Cực). Chiến lược này, theo nhận định của nhà nghiên cứu Elie Tenenbaum, Viện Quan hệ Quốc tế Pháp (IFRI), là một sự « thể hiện trực tiếp khẩu hiệu "Nước Mỹ trên hết" ». Ngoài việc khẳng định sử dụng mọi phương tiện quân sự để bảo vệ biên giới và lãnh hải của Mỹ, tài liệu NDS 2026 còn tuyên bố « bảo vệ các lợi ích của Mỹ tại toàn vùng Tây Bán Cầu », nhất là quyền tiếp cận quân sự và thương mại của Mỹ tại những khu vực trọng yếu. Trả lời RFI Pháp ngữ, giáo sư Isabelle Vagnoux, chuyên gia về chính sách đối ngoại Mỹ, trường đại học Aix-Marseille, giải thích đâu là những nguy cơ hiểm họa từ bên ngoài theo quan điểm của chính quyền Trump : « Về mối đe dọa tiềm tàng từ một thế lực bên ngoài, kênh đào Panama là một ví dụ điển hình bởi vì Trung Quốc đầu tư rất nhiều vào đó. Hiện Bắc Kinh đang xem xét lại một số cam kết nhưng Trung Quốc đã đầu tư đáng kể vào các cảng biển, những cơ sở vô cùng quan trọng cho vận chuyển hàng hóa. Vì vậy, điều đó được xem như là một mối đe dọa cho an ninh Hoa Kỳ. Vịnh Mêhicô và vùng biển Caribê cũng là một mối lo ngại bởi vì hai khu vực này bao gồm cả Florida và miền nam nước Mỹ. Thế nên, việc nhiều thế lực nước ngoài không hẳn là thân thiện, đầu tư hoặc can thiệp vào những khu vực này đã từng được coi là mối đe dọa cho an ninh nước Mỹ, và đó chính xác là những gì chúng ta đang chứng kiến. » Trung Quốc là cường quốc kinh tế - quân sự « cần phải ngăn chặn » Thứ hai, chính quyền Trump II thừa nhận Trung Quốc là một cường quốc kinh tế và quân sự, một thế lực ổn định ở vùng châu Á – Thái Bình Dương. Tuy nhiên, sự lớn mạnh nhanh chóng về quy mô cũng như là chất lượng quân sự của Trung Quốc bao gồm cả các lực lượng được thiết kế cho các hoạt động ở Tây Thái Bình Dương (nhìn từ phía Mỹ) cùng với khả năng vươn tới các mục tiêu xa khiến Mỹ lo lắng cho các lợi ích của mình do việc vùng Ấn Độ - Thái Bình Dương trong tương lai sẽ chiếm đến hơn một nửa nền kinh tế toàn cầu. NDS 2026 của Mỹ cho rằng « an ninh, tự do và thịnh vượng của Mỹ » phụ thuộc nhiều vào khả năng « giao thương và tham gia trong thế mạnh » của Mỹ trong vùng Ấn Độ - Thái Bình Dương. Việc Trung Quốc – hay một quốc gia nào khác – thống trị khu vực có thể ngăn chặn hiệu quả « khả năng tiếp cận của Mỹ với trung tâm kinh tế toàn cầu, gây ra những hậu quả lâu dài đối với triển vọng kinh tế quốc gia, bao gồm cả khả năng tái công nghiệp hóa của Mỹ ». Trong tầm nhìn này, tuy không một lời nhắc đến Đài Loan – một điểm gây ngạc nhiên cho giới quan sát – nhưng NDS 2026 cho biết Hoa Kỳ sẽ thiết lập một « hệ thống phòng thủ vững chắc dọc theo chuỗi đảo thứ nhất », khuyến khích và hỗ trợ các đồng minh, đối tác chính yếu trong khu vực can dự nhiều hơn vào việc phòng thủ chung. Nhưng NDS cũng khẳng định rằng mục tiêu đề ra là « không nhằm thống trị Trung Quốc, không bóp nghẹt cũng không làm nhục Trung Quốc » mà để « duy trì thế cân bằng lực lượng quân sự trong vùng Ấn Độ - Thái Bình Dương », ngăn chặn Trung Quốc hoặc bất kỳ quốc gia nào có thể thống trị Mỹ hay các nước đồng minh của Mỹ. Đối với nhà nghiên cứu về chính sách đối ngoại Mỹ, Isabelle Vagnoux, chính sách của Mỹ đối với Trung Quốc vẫn có một sự liên tục. Điểm thay đổi ở đây là giọng điệu của chính quyền Trump có vẻ hòa dịu hơn so với nhiệm kỳ đầu tiên. « Donald Trump từng có một bước ngoặt rõ ràng hướng đến vùng Ấn Độ - Thái Bình Dương, xem Trung Quốc là mối đe dọa chính cho an ninh nước Mỹ. Điều này đã có dưới thời Obama nhưng còn khá kín đáo. Chính quyền Trump nhiệm kỳ I là chính quyền đầu tiên thực sự coi Trung Quốc là kẻ thù và đã tăng cường các mối quan hệ đồng minh, bao gồm cả liên minh quân sự tại vùng Ấn Độ - Thái Bình Dương. Hơn nữa, ông Biden đã theo đuổi đường lối tương tự. Nhưng trong chiến lược mới này, Trung Quốc được đối xử khá tốt đó là vì ông Trump từ chối mọi sự đối đầu. Điều ông muốn chứng tỏ ở đây là Mỹ vẫn tiếp tục duy trì vị thế mạnh mẽ tại vùng Ấn Độ - Thái Bình Dương nhưng tránh mọi sự đối đầu. » Đồng minh nên « tự lo » an ninh của chính mình Ưu tiên thứ ba được NDS đề cập đến là « Tăng cường chia sẻ trách nhiệm với các đồng minh và đối tác của Hoa Kỳ ». Giống như NSS đã dự kiến, đây là chiến lược tham gia có mục tiêu ở nước ngoài, tập trung rõ ràng vào việc thúc đẩy các lợi ích cụ thể và thiết thực của Mỹ. Trong cách tiếp cận « Nước Mỹ trên hết » và dựa theo lẽ thường, các mối liên minh và đối tác với Mỹ đóng vai trò quan trọng. Ngoài hai ưu tiên trên, NDS 2026 nhìn nhận sự tồn tại dai dẳng của nhiều mối đe dọa khác, nhưng cho rằng các nước đồng minh từ Á đến Âu nên gánh vác phần lớn trọng trách và trên tuyến đầu vì đó là lợi ích của chính các nước đó, để ngăn chặn và làm đối trọng với Trung Quốc ở Ấn Độ - Thái Bình Dương hay đối phó với mối họa hạt nhân Bắc Triều Tiên ở Đông Bắc Á hay nguy cơ chiến tranh với Nga tại châu Âu, vốn dĩ được đánh giá là « ít nghiêm trọng hơn » cho Mỹ và không đe dọa đến Mỹ. Do vậy, NDS hối thúc các nước đồng minh nên nhanh chóng đáp ứng các tiêu chuẩn toàn cầu mới do tổng thống Trump thiết lập tại thượng đỉnh NATO ở La Haye năm 2025, theo đó, các nước đồng minh nên dành chi tiêu cho quốc phòng là 5% và Hoa Kỳ chỉ sẽ cung cấp các hỗ trợ quân sự cần thiết một khi các nước thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ trên. Nhìn từ góc độ này, nhà nghiên cứu Elie Tenenbaum, trả lời báo Pháp Le Figaro đánh giá, « Hoa Kỳ dự định sẽ tiếp tục tham gia, nhưng ở mức độ hạn chế hơn. Trách nhiệm chính hiện nay thuộc về các đồng minh, với trọng tâm là tăng chi tiêu quốc phòng. Đặc biệt, Israel đang được coi là một “đồng minh kiểu mẫu”, có khả năng đảm bảo quốc phòng cho chính mình. Thông điệp đưa ra, theo một nghĩa nào đó, là “Quý vị hãy tự lo cho mình, rồi Mỹ sẽ giúp quý vị”. » Phục hồi nền công nghiệp Mỹ Cuối cùng, NDS 2026 đặt ưu tiên cho việc « tăng cường sức sống cho nền tảng công nghiệp quốc phòng Mỹ ». Chính quyền Trump II kỳ vọng phục hồi nền công nghiệp Mỹ bằng cách đưa các ngành công nghiệp chiến lược trở về Mỹ và hồi sinh những ngành công nghiệp mà các thế hệ trước đã cho di dời ra nước ngoài. Tài liệu khẳng định tham vọng biến Mỹ trở lại thành « kho vũ khí hàng đầu thế giới », có khả năng sản xuất không chỉ cho chính mình mà cả cho các đồng minh và đối tác. Và để đạt được mục tiêu này, NDS 2026 cam kết có những khoảng đầu tư lớn cho nền quốc phòng Mỹ, tạo thuận lợi cho các nhà đầu tư có tư tưởng đổi mới, tiếp nhận công nghệ mới và giảm nhẹ các quy định, chính sách lỗi thời cũng như các rào cản, cũng như mở rộng hợp tác sản xuất với các đồng minh, đối tác… Bằng cách này, Hoa Kỳ có thể bảo đảm các lợi thế công nghiệp quốc phòng của chính mình, củng cố các liên minh để họ có thể đóng góp vào việc duy trì hòa bình thông qua sức mạnh, trên cơ sở vững chắc, công bằng và bền vững. Nhìn chung, chiến lược quốc phòng mới của Mỹ đã khiến các nước đồng minh châu Âu và châu Á lo lắng về nguy cơ Hoa Kỳ rút quân tại hai khu vực này. Trang mạng hãng tin Yonhap nhận xét, việc Hoa Kỳ hối thúc các đồng minh tăng chi tiêu quốc phòng có nguy cơ dẫn đến việc những nước này phải mua nhiều vũ khí và công nghệ do Mỹ sản xuất, để giảm gánh nặng an ninh cho Washington vào thời điểm Mỹ muốn tập trung vào đối thủ địa chính trị lớn là Trung Quốc. Tuy nhiên, cựu lãnh đạo tình báo quân sự Pháp, ông Christophe Gomart trên mạng xã hội Instagram, ngay sau khi tổng thống Trump công bố Chiến lược An ninh Quốc gia cuối tháng 12/2025, từng kêu gọi một sự cẩn trọng : « Điều này diễn ra trong khuôn khổ NATO, nơi việc phân chia vai trò một lần nữa sẽ do Washington quyết định. Và đó không phải là sự ...

Đầu năm 2026, phe cầm quyền của tổng thống Mỹ Donald Trump một lần nữa khiến nhiều đồng minh châu Âu « choáng váng », khi đơn phương tuyên bố Washington sẽ kiểm soát đảo Groenland thuộc chủ quyền của Đan Mạch, thành viên khối NATO, trong ít tuần lễ tới. Hành xử của Nhà Trắng đẩy châu Âu vào thế đường cùng. Châu Âu phản ứng ra sao ? Vụ Groenland nói gì về quan hệ Hoa Kỳ - Châu Âu đang bước vào giai đoạn ngày càng bất định ? Hãy bỏ rơi Groenland để đổi lấy « an ninh cho Ukraina »: Trump ngửa bài Tối 04/01/2026, hơn một ngày sau chiến dịch tấn công chớp nhoáng Venezuela, bắt sống tổng thống quốc gia Nam Mỹ đưa về Hoa Kỳ, Donald Trump tuyên bố nước Mỹ cần đảo Groenland « vì lý do an ninh quốc gia ». Để bảo vệ vùng Bắc Cực ở Bắc Đại Tây Dương khỏi các tham vọng của Nga và Trung Quốc, như ông Trump liên tục nhấn mạnh lâu nay. Tổng thống Mỹ khẳng định như đinh đóng cột : « chúng tôi sẽ kiểm soát Groenland trong khoảng hai tháng nữa… chúng tôi sẽ trở lại bàn về Groenland trong 20 ngày nữa ». Một ngày trước đó, bà Katie Miller, vợ của phó văn phòng Nhà Trắng Stephen Miller ( được coi là người có nhiều ảnh hưởng với chính sách quốc tế của tổng thống Mỹ), trên mạng X, đăng tải hình lá cờ Mỹ trên đảo Groenland với một chữ hoa duy nhất « SOON » (tạm dịch là : SẮP RỒI). Nửa tháng sau, lá bài lật ngửa. Trước thềm Diễn đàn Kinh tế thường niên Davos (Thụy Sĩ), quy tụ giới lãnh đạo toàn cầu, tổng thống Donald Trump đưa ra một tuyên bố trịch thượng : « Châu Âu nên quên chuyện Groenland đi để tập trung vào hồ sơ Ukraina ». Trả lời đài NBC News, ngày 18/01, bộ trưởng Tài Chính Mỹ Scott Bessent giải thích rõ về lời cảnh báo của tổng thống : « Các nhà lãnh đạo châu Âu sẽ phải hiểu rằng họ cần nằm dưới cái ô bảo đảm an ninh của Mỹ. Điều gì sẽ xảy ra ở Ukraina, nếu Mỹ rút đi các hỗ trợ? Toàn bộ mọi thứ sẽ sụp đổ. » Nhà báo Pierre Haski chuyên về địa chính trị quốc tế ghi nhận « một tình huống chưa từng có đối với Liên Hiệp Châu Âu », phải cùng lúc đối mặt với các đe dọa từ Nga và Mỹ, trên hai mặt trận « Ukraina và Groenland ». Châu Âu phải đối mặt với cuộc xâm lăng của một đối thủ, « đã từng là đồng minh chính của mình » (« De l’Ukraine au Groenland, l’Europe sous un double feu », Le Nouvel Obs). Sự lúng túng, bị động của châu Âu… Chuyên gia Federico Santopinto, giám đốc nghiên cứu Viện Quan hệ Quốc tế và Chiến lược (IRIS), phụ trách Chương trình Châu Âu, Liên Âu, NATO, đưa ra một ghi nhận chung về phản ứng của châu Âu : « Các nước châu Âu hoàn toàn bị choáng váng. Họ không còn biết phải làm gì. Ngay cả người Đức cũng tỏ ra lúng túng. Họ có thể hiểu rõ vấn đề, nhưng thể hiện thái độ gần như thúc thủ bị động. Họ quyết định rút một số binh sĩ đã triển khai trước đó tại Groenland. Tâm trạng choáng váng thông thường kéo dài không lâu. Nhưng lần này là một tình trạng choáng váng kéo dài. Các nước châu Âu chưa thực sự đoàn kết lại để có được một lập trường chung về những thay đổi lớn lao đang diễn ra trên thế giới, và đặc biệt là tại Mỹ. » Đan Mạch chắc chắn là một trong những nước châu Âu bị tác động nặng nề nhất bởi chính sách độc đoán và thô bạo của nước Mỹ, quốc gia thường được coi là đồng minh trụ cột, bời Đan Mạch cũng là một trong các thành viên NATO gắn chặt nhất số phận của mình với nước Mỹ. Đọc thêm - Thủ tướng Đan Mạch: Nếu Mỹ chiếm đảo Groenland, liên minh Âu - Mỹ sẽ tan vỡ Trả lời Radio France, chuyên gia Kristian Soby Kristensen, giám đốc Viện Chiến lược và nghiên cứu về Chiến tranh Học Viện Quốc phòng Hoàng gia Đan Mạch, nhận xét : « Ít nhất trong 30 năm qua đã có sự đồng thuận rộng rãi ở Đan Mạch rằng mối quan hệ xuyên Đại Tây Dương là nền tảng của chính sách quốc phòng và an ninh của Đan Mạch. Các chính trị gia Đan Mạch đã làm mọi thứ có thể để xích lại gần Mỹ nhiều nhất có thể. Một trong những đồng nghiệp của tôi thường mô tả lập trường của Đan Mạch là phụ thuộc nặng nề vào Mỹ ». … và tâm thế « sung sướng là chư hầu » Tuy nhiên, không chỉ Đan Mạch mà toàn bộ châu lục phụ thuộc nặng nề vào Mỹ về an ninh. Nhà địa chính trị học Gilles Gressani lưu ý: « Thách thức lớn là các nước châu Âu chúng ta hoàn toàn nằm trong vùng ảnh hưởng của Mỹ. Chúng ta đã bị đặt vào vị thế là chư hầu của Mỹ từ lâu. Về cơ bản, tổng thống Mỹ Donald Trump, khi tìm cách buộc chúng ta phải tuân theo cách nhìn của ông ta, buộc chúng ta phải tuân theo các lợi ích của ông ta, đã thách thức : Các vị có thể làm được gì để có thể chống lại những gì mà tôi áp đặt với các vị ? Nếu trở ngược lại với lịch sử, có thể thấy châu Âu về mặt nào đó chấp nhận đã là chư hầu của Mỹ ». (« Quel est le plan de Donald Trump pour briser l'UE et l'ordre mondial ? / Đâu là kế hoạch của Donald Trump nhằm phá vỡ Liên Âu và trật tự thế giới ? » - C Ce Soir, ngày 20/01/2026). Nhà địa chính trị học Gilles Gressani, đứng đầu tạp chí chuyên về chính trị quốc tế Le Grand Continent, là tác giả của khái niệm « vassalisation heureuse » (tạm dịch là « sung sướng là chư hầu »), được nhiều người sử dụng sau đó để nhấn mạnh đến hiểm họa, mà ông coi là lớn nhất với các nước châu Âu hiện nay, đó là hoàn toàn bị gạt sang bên lề cuộc chơi toàn cầu, nếu tiếp tục phó thác các vấn đề chiến lược an ninh của châu lục cho nước Mỹ thời Donald Trump, với các tham vọng đế quốc ngày càng thể hiện rõ. Để Trump lấn tới ở Groenland, Châu Âu sẽ lụi tàn Tâm thế « sung sướng làm chư hầu » của Mỹ ở đa số các nước châu Âu và chính sách quyết đoán, hung hãn của nước Mỹ thời Donald Trump đang đẩy châu Âu vào thế đường cùng. Thái độ bị động của châu Âu trong việc bảo vệ Groenland đặt Liên Âu trước nguy cơ tồn vong. Học giả Jacques Attali, nguyên cố vấn đặc biệt của tổng thống François Mitterand, cảnh báo : « Để đảm bảo sự ủng hộ của Trump cho một thỏa thuận lâu dài nhằm cứu Ukraina, châu Âu đang kiềm chế, không thực hiện bất kỳ biện pháp trả đũa thương mại nào, bất kỳ lệnh trừng phạt kỹ thuật số nào và bất kỳ sự bảo vệ đáng tin cậy nào đối với toàn vẹn lãnh thổ của Groenland. Tính toán này là dễ hiểu, bởi nếu Ukraina sụp đổ, toàn bộ châu Âu - không có sự hỗ trợ của Mỹ - có nguy cơ bị Nga xâm lược. Tuy nhiên, hành động như vậy, châu Âu sẽ không cứu được Ukraina, và họ cũng sẽ mất Groenland. Khi đó, họ sẽ đánh mất chính mình. » (Les Echos, ngày 09/01/2026). Ba kịch bản với Groenland: Châu Âu đối xử thế nào với « đồng minh kẻ cướp » ? Châu Âu bị đẩy vào thế đường cùng buộc phải tìm lối thoái. Ít ngày sau đe dọa của tổng thống Mỹ sẽ kiểm soát Groenland trong hai tháng tới, Viện Jacques Delors đưa ra ba kịch bản với Groenland (« Groenland : Trois scénarios pour l’Europe face à un allié prédateur / Groenland: Ba kịch bản cho châu Âu đối mặt với đồng minh kẻ cướp »). Ngoài kịch bản bất lực hay đầu hàng (Viện Jacques Delors gọi là « Kịch bản Munich vùng Bắc Cực »), hai kịch bản còn lại là « Đối đầu » và « Phòng thủ ngăn ngừa, tránh đụng độ » (còn gọi là « Kịch bản răn đe »). Đọc thêm : Tại Mỹ, hai dự luật được trình lên Quốc Hội ngăn chặn chính quyền Trump sáp nhập một đồng minh NATO Theo kịch bản « Phòng thủ theo hướng ngăn ngừa, tránh đụng độ », các quốc gia châu Âu, gồm trước hết Pháp, Anh, Đức và các nước Bắc Âu, triển khai lực lượng một cách kín đáo (tàu chiến, phương tiện trên không, đơn vị bộ binh nhẹ…) tại Groenland theo yêu cầu của Đan Mạch, với danh nghĩa chống Nga và Trung Quốc. Mục tiêu không phải là đối đầu với Mỹ, mà là làm cho việc sáp nhập trở nên « phải trả giá cao về mặt chính trị » đối với phe Trump. Trump sẽ phải ra lệnh tấn công đồng minh và sẽ gặp sự phản đối từ phía Quốc Hội Mỹ. Theo Viện Jacques Delors, trong hoàn cảnh hiện nay kịch bản này là « lựa chọn hợp lý nhất để ngăn chặn việc sáp nhập mà không cần xung đột ». Nếu Nhà Trắng không dừng bước, châu Âu buộc phải chuyển sang kịch bản « đối đầu ». Quân Mỹ lấn tới ở Groenland tất nhiên sẽ buộc các nước châu Âu phải rút quân. Trong trường hợp này, châu Âu sẽ hứng chịu « thất bại về mặt quân sự » trước phe cánh của tổng thống Mỹ, nhưng Nhà Trắng phải trả giá rất đắt về mặt chính trị: Khủng hoảng nội bộ, phản ứng dữ dội từ Quốc Hội, uy tín khối NATO sụp đổ. Tuy nhiên, kịch bản cực đoan này cũng có mặt tích cực với châu Âu : Đẩy nhanh tiến trình « tự chủ chiến lược » của châu lục, tách châu Âu hoàn toàn khỏi Mỹ. « Sự cáo chung của phương Tây » và cơ hội khẳng định độc lập với Mỹ Tham vọng đế quốc của nước Mỹ thời Donald Tr...