
Hosted by Thầy Viên Minh · VI

72. NGÃ PHÁP Nghe luận bàn về ngã và pháp đã lâu nhưng không thông được, một thiền sinh bèn hỏi Sư: - Có phải Tiểu Thừa hết ngã chấp nhưng còn pháp chấp, Đại Thừa thì ngã pháp đều không chấp? Sư nói: - Mau đi rửa lỗ tai kẻo năm trăm kiếp hóa thành lỗ tai lừa! Rồi Sư ngâm bài kệ: Không đúng không sai không đại tiểu Chẳng hai chẳng một chẳng vơi tăng Há miệng mắc quai đừng bép xép. Chuyên cần giác niệm chớ lăng xăng.

71. THỰC VÀ MỘNG Sáng nào Sư cũng thấy một thiền sinh trang nghiêm quỳ trước Phật đài, vừa lạy vừa lâm râm khấn nguyện rất mực chí thành. Hôm đó, Sư có việc đi vào thiền đường, vô tình nghe được: “Lạy Phật, con nguyện trở thành vị Đại Bồ Tát có lòng vị tha vô lượng, con nguyện đạt được trí tuệ như hải để mau kiến tánh thành Phật, con nguyện sanh Tây Phương Tịnh độ để giúp Đức Phật A Di đà tiếp dẫn tất cả chúng sanh vào miền Cực Lạc, con nguyện... con nguyện...” Hôm sau, Sư gọi thiền sinh đó đến và kể cho nghe một câu chuyện: “Thuở xưa có một chàng thanh niên vừa đến tuổi cập kê. Cha mất sớm nên mẹ già lo chọn trước cho anh một người vợ tương lai vừa ý. Rủi ro bà đau nặng nên chưa kịp dẫn anh ra mắt đàng gái. Biết mình khó qua khỏi, bà liền kêu con tới tả hình dáng vị hôn thê cho con và dặn sau khi bà chết, anh nhớ đi tìm người con gái ngoan hiền và tuyệt đẹp đó mà cưới làm vợ. Thế rồi bà mẹ qua đời. Nhớ lời mẹ, sẵn là một họa sĩ, anh lấy giấy bút ra vẽ một bức “chân dung” vị hôn thê theo lời mẹ tả. Thế rồi mỗi ngày, anh đi cùng làng khắp xóm lục lọi kiếm tìm. Gặp người con gái nào, anh cũng đưa bức tranh tuyệt sắc giai nhân của mình ra để so sánh, nhưng tuyệt nhiên không có người con gái nào như vậy. Cuối cùng, quá thất vọng, anh đành ôm bức tranh tương tư héo mòn mà chết. Tiếc thay, vị hôn thê hiền thục của anh lại chính là người bạn láng giềng mà hàng ngày anh vẫn thường chuyện trò thân mật.” Thiền sinh không hiểu ý, hỏi: - Thưa Thầy, câu chuyện Thầy vừa kể có giúp ích gì cho con đâu? Sư nói: - Thế thì cũng tiếc thay, hàng ngày anh cứ đem bức vẽ lý tưởng của bản ngã mình ra mà cầu nguyện, còn bản lai diện mục ngày đêm diện kiến thì chẳng bao giờ anh mới thấy được!

70. VÔ NGÃ Từ khi vào thiền viện, anh nhất định phải thực hiện tinh thần vô ngã mà anh đọc được trong một số sách thiền: thể nhập pháp giới. Một ngày kia anh mừng rỡ trình với Sư: - Thưa Thầy, con đang tưới hoa, bỗng thấy con với hoa là một. Sư nói: - Anh đã thấy anh với hoa là một thì cứ việc tưới anh là được, cần gì đi tưới hoa cho mệt! Rồi Sư ngâm bài kệ: Bịnh tưởng làm lòa mắt Thấy mình, người là một Vô ngã chẳng thấy đâu Coi chừng ba mươi trượng!

69. LẶNG LẼ HỒN NHIÊN Một thiền sinh mới gia nhập thiền đường. Sư dạy: - Hãy nhìn vạn pháp với cái nhìn hồn nhiên lặng lẽ và trong sáng. Từ đó, mỗi ngày anh nhìn mọi sự vật trước mắt với tâm hồn nhiên, lặng lẽ và trong sáng: mây trôi trên bầu trời, giọt sương long lanh đầu ngọn cỏ, con chim hót trên cành, đóa hoa vàng mới nở,... nhất nhất hiện ra như một thế giới tinh nguyên mà anh vừa thể nhập vào. Rồi một buổi sáng mùa xuân, bên cửa sổ thiền đường bỗng hiện ra bóng dáng một giai nhân tuyệt sắc, nổi bậc giữa muôn hoa rực rỡ trong ánh nắng bình minh. Cảnh vật như chìm đi sau hình bóng của nàng. Thế giới như thu lại chỉ còn một mình nàng là hình ảnh duy nhất đóng lại trong tâm hồn anh. Nàng đã đi qua từ lâu mà lòng anh còn bồi hồi như mộng. Chợt nhớ lời Thầy, anh hoảng hốt như lạc lõng giữa mây trời cây cỏ... chợt thấy rằng thế giới tinh nguyên mà anh vừa thể nhập chỉ còn là ảo ảnh. Còn ảo ảnh của nàng thì độc chiếm một cách hiện thực rõ ràng trong tâm khảm của anh. Không giải quyết được xung đột nội tâm này anh đành tìm Sư xin lời giáo huấn. Sư nói: - Hãy nhìn hình ảnh bên trong với cái nhìn hồn nhiên lặng lẽ và trong sáng.

68. TÁNH HỮU Một thiền sinh phấn khởi nói: - Bạch Thầy, con đã thấy được chỗ hạ thủ công phu rồi. Chỉ cần thấy được tánh không của ngũ uẩn là giác ngộ giải thoát. Sư hỏi: - Nhưng anh đã thấy được tánh hữu của ngũ uẩn chưa? - Dạ, bạch Thầy, xin Thầy chỉ dạy. - Anh có khi nào yêu đơn phương một cô gái không? - Dạ có, hồi con đi học con yêu một cô gái lớp bên cạnh. Mặc dù chưa bao giờ được làm quen với nàng, nhưng lần đầu tiên nhìn thấy nàng con đã thầm yêu trộm nhớ. Con tưởng tượng được sống bên nàng, hạnh phúc, rồi có con, rồi xây dựng một tổ ấm thật tuyệt vời,... Con nuôi mộng tưởng đó cho đến khi ra trường, con định nhờ bạn bè mai mối, nhưng con được biết nàng đã yêu một người khác và họ đã đính hôn. Con vô cùng đau khổ, thất vọng trong nhiều năm dài, cho đến khi gặp Thầy, con học đạo tu tập và đến nay hình ảnh đó hầu như đã hoàn toàn phai nhạt. Sư nói: - Tất cả những thứ mà anh vừa nói như yêu thương, tưởng tượng, hạnh phúc, đau khổ, hy vọng, thất vọng, v.v... chính là “tánh hữu” của vọng tâm anh, vì lúc đó chúng thật còn hơn những vật thể mà anh đã có thể sờ đụng được. Nhưng tất cả những hình ảnh của anh về người con gái đó có phải chính là người con gái đó không? - Dạ không. - Và tất cả hình ảnh đó thật hay giả? - Dạ giả, vì đó là ảo ảnh, còn con người thật của nàng con gần như hoàn toàn không biết. Sư nói: - Vậy anh chỉ cần thấy thật tánh “giả hữu” của ngũ uẩn chứ không cần đi tìm tánh không trong ý niệm, bởi vì tánh không đó cũng chính là con đẻ của ngũ uẩn như chính hình ảnh người yêu trong mộng của anh mà thôi.

67. TÁNH KHÔNG Sư hỏi chúng: - Thế nào là tánh không? Một thiền sinh đáp: - Vì các pháp có sinh có diệt nên gọi là tánh không. Sư nói: - Đó là hiện tượng luận chứ không phải tánh không. Các nhà khoa học hiểu rõ tánh vô thường sinh diệt của các hiện tượng không lẽ đều đã giác ngộ tánh không? Hơn nữa, có sinh có diệt là tánh không, vậy vô sinh bất diệt là tánh gì? Một thiền sinh khác thưa: - Vì các pháp do nhân duyên hòa hợp mà thành hiện tượng chứ bản tánh vốn không. Sư nói: - Đó là bản thể luận của ngoại đạo chứ không phải tánh không. Nếu bản thể của pháp là không thì ngoại đạo cũng có thể giác ngộ được. Hơn nữa chỉ có bản thể mới không, còn hiện tượng thì sao? Một thiền sinh tỏ ra tự tin nói: - Bậc trí tuệ rốt ráo thấy “sắc tức thị không, không tức thị sắc, sắc bất dị không, không bất dị sắc”. Đó là tánh không của pháp. Sư hỏi: - Anh có thể cho ví dụ không? Thiền sinh đáp: - Ví như cái bóng của Thầy ngồi đó, tuy có mà không, tuy không mà có. Sư hỏi: - Thế còn chính ta ngồi đây thì sao? Thiền sinh lúng túng: - Dạ, dạ... Sư than: - Các anh toàn là nói chuyện bên ngoài qua ý niệm. Các anh chưa thấy pháp ở đâu làm sao thấy được tánh không của pháp!

66. VÔ PHÂN BIỆT Thấy nhiều thiền sinh chấp lầm lý vô phân biệt, Sư lại giảng: - Các vị chớ có lầm tâm vô phân biệt là cái tâm không biết phân biệt sự sự vật vật muôn sai ngàn khác. Vô phân biệt chính là thấy pháp nào đúng như chính pháp đó chứ không thấy ra thành một tướng khác của vọng tâm. Như người sợ hãi thấy sợi dây thành con rắn, người mất búa thấy đứa bé hàng xóm là đứa ăn cắp. Đó chính là tướng phân biệt chủ quan của vọng tâm, nên gọi là tâm phân biệt. Thấy sợi dây đúng là sợi dây, thấy thằng bé như nó đang là, tức vô phân biệt. Vậy tâm vô phân biệt chính là trí tuệ phân biệt rành rẽ phân minh pháp nào ra pháp đó. Một thiền sinh véo vào lưng người bạn nói: - Thấy chưa, may Thầy giảng chứ nếu anh không tin tôi thì đã đổi cái đồng hồ thiệt lấy đồng hồ giả rồi!

65. PHÂN BIỆT MINH BẠCH Sư giảng pháp nói: - Các vị cần phải nghiêm mật thận trọng trong mỗi hành vi động tịnh của thân, khẩu, ý; phải lấy trí tuệ phân biệt minh bạch vi tế đối với thiện ác, đúng sai, chân giả, xấu tốt v.v... Nếu không, chẳng biết khi nào ra khỏi sông mê bể khổ... Một thiền sinh đứng dậy thưa; - Xưa nay kinh luận cũng như thiền đều nói: “Tâm vô phân biệt”, sao Thầy lại dạy phân biệt quá minh bạch như vậy? Sư hỏi: - Vậy đưa anh một chén cơm với một chén đất, anh ăn chén nào?

64. MỤC ĐÍCH PHẠM HẠNH Thấy tu viện của Sư tổ chức chu đáo, có người hỏi: - Phải chăng mục đích đời sống phạm hạnh dưới sự hướng dẫn của Thầy là đào tạo Tăng tài cho Giáo Hội? Sư nói: - Không, bản nguyện của ta là giúp họ có khả năng “ra đời”.

63. ĐỒNG HAY BẤT ĐỒNG Một học giả nghiên cứu về những điểm dị đồng giữa các tôn giáo hỏi ý kiến Sư: - Đạo Khổng nói “thuận thiên lập mệnh”, Đạo Thiên Chúa nói “vâng ý Cha”, Đạo Lão nói “Đạo pháp tự nhiên”, còn Đạo Phật cũng nói “Tùy Pháp Hành”. Những giáo lý ấy có giống nhau không? Sư nói: - Giống ở người thấy, không giống ở người không thấy.