
Hosted by RFI Tiếng Việt · VI
Sinh hoạt văn hóa, nghệ thuật, đặc biệt là tại Pháp và Việt Nam

Tọa lạc ở trung tâm Paris, Jardin des Plantes (Vườn Bách Thảo) là một trong những không gian xanh lâu đời nhất ở thủ đô Pháp. Ra đời cách đây đúng bốn thế kỷ, Vườn Bách Thảo không chỉ đơn thuần là một công viên dành cho khách thưởng ngoạn mà còn thu hút các nhà nghiên cứu động thực vật vì trong khuôn viên Jardin des Plantes, còn có vườn thú và viện Bảo tàng Lịch sử Tự nhiên, nơi cất giữ nhiều bộ sưu tập có giá trị. Ngược dòng thời gian, năm 1626, nhà quý tộc người Pháp Guy de la Brosse lúc bấy giờ là bác sĩ của nhà vua đã viết một lá thư thỉnh cầu vua Louis XIII cho phép thành lập một không gian dành riêng cho ngành thực vật học. Khu vườn này không chỉ để dạo chơi, mà còn để trồng các loài thảo dược, nơi các y sĩ, dược sĩ có thể tìm thấy nhiều loại cỏ thuốc. Chính thức được khánh thành vào năm 1635, không gian này ban đầu được gọi là « Le Jardin du Roi » (Vườn của Nhà vua) và bác sĩ Guy de la Brosse trở thành người quản lý đầu tiên vào đầu thế kỷ XVII, rồi mãi đến sau thời kỳ Cách mạng Pháp, không gian này vào năm 1793 mới đổi tên thành « Jardin des Plantes » (Vườn Bách Thảo). Nhân dịp kỷ niệm 400 năm ngày thành lập, Vườn Bách Thảo từ đây cho đến trung tuần tháng 06/2026 sẽ trồng thêm 70.000 gốc hoa, hầu tạo ra nhiều bức tranh muôn màu tự nhiên và mở cửa đón tiếp khách tham quan miễn phí. Chương trình trồng hoa này sẽ diễn ra trong hai đợt : Từ đây cho đến đầu tháng Năm chủ yếu trồng các loài hoa mùa xuân như tulip, thủy tiên, phong quỳ hay hoa anh túc. Mục tiêu là tạo ra những thảm hoa muôn sắc đẹp tựa như tranh vẽ, trải dài trên bốn khu vực dọc theo các hàng cây và những luống hồng được trồng trong vườn. Đợt thứ hai từ tháng Năm đến giữa tháng Sáu, chủ yếu trồng 25.000 gốc hoa sống lâu, cùng với nhiều loại cây ăn trái và các giống thảo mộc từng được dùng làm cây thuốc trong hàng trăm năm qua. Mục tiêu là để truyền đạt kiến thức cho các lớp học sinh, làm nổi rõ mối quan hệ mật thiết giữa con người và thiên nhiên. Riêng với những ai thích chụp ảnh đăng mạng Instagram, quý vị nên đi vào buổi sáng, vì hiện giờ, Vườn Bách Thảo thu hút đông đảo khách tham quan đến đây để chiêm ngưỡng gốc hoa anh đào Nhật Bản Shirotae, thuộc vào hàng cổ thụ với tán lá thật lớn, gốc cây đang nở rộ với muôn chùm hoa trắng muốt, bên cạnh đó có nhiều gốc anh đào cerasus serulata lại trổ nhiều nhánh hoa đào sắc hồng tươi thắm. Trong giai đoạn mới được thành lập, Vườn Bách Thảo chủ yếu là một vườn trồng cây làm thuốc. Mãi đến đầu thế kỷ XVIII, dưới thời vua Louis XIV (1638-17115), ban điều hành mới cho xây dựng nhà kính có hệ thống sưởi ấm đầu tiên, nhằm nuôi những gốc cây cà phê đến từ Trung Mỹ được tặng cho vua Louis XIV, một món quà được xem là quý hiếm vào thời bấy giờ. Trả lời phỏng vấn ban tiếng Pháp RFI, bà Noëlle Parisi, trưởng ban điều hành các nhà kính lớn cho biết vai trò của khu vườn Jardin des Plantes : « Thông qua cách thiết kế dàn dựng, Vườn Bách thảo phản ánh vị thế và sự hùng mạnh của một nhà nước, cũng như khả năng và nguồn lực của vương triều Pháp vào đầu thế kỷ XVIII. Hầu hết các cường quốc châu Âu thời bấy giờ đều tăng gấp đôi các chuyến thám hiểm tại những vùng đất xa xôi, đem các giống cây nhiệt đới về để nghiên cứu trưng bày, nhưng đồng thời để chứng minh sức mạnh của một vương quốc trên đà chinh phục các thuộc địa mới. Cũng cần hiểu rằng, vào thời xưa các phương tiện giao thông vẫn chưa phát triển như bây giờ : khách tham quan có thể nhìn tận mắt những loài thực vật phổ biến ở Nam Mỹ hay châu Phi như cây cà phê, cây cọ, quả dứa mà lúc đó vẫn là những giống loài "quý hiếm" đối với dân châu Âu, lần đầu tiên họ mới được nhìn thấy trong nhà kính Vườn Bách Thảo ». Ngoài việc trồng các giống cây nhiệt đới, Vườn Bách Thảo Jardin des Plantes còn được xem như một mắt xích trong cỗ máy kinh tế của nước Pháp vào đầu thế kỷ XVIII. Việc gia tăng các tuyến giao thương hàng hải đẩy mạnh đà phát triển kinh tế, sau khi thu thập các giống cây nhiệt đới, nước Pháp có thể tái du nhập việc trồng cây vào các thuộc địa, chẳng hạn như cây cao su, cà phê hay vani. Ông Bruno David, người từng điều hành từ năm 2015 đến năm 2023 Bảo tàng Lịch sử Tự nhiên Quốc gia trong khuôn viên Vườn Bách thảo cho biết : « Năm 1635, khi Hồng y Richelieu, cho thành lập Jardin du Roi (nay là Jardin des Plantes) theo sắc lệnh của nhà vua Louis XIII, chủ yếu tạo một vườn thảo dược, nhằm mục đích dùng cây thuốc, để trị bệnh cho hoàng gia. Một thế kỷ sau đó, Vườn Bách Thảo được dùng để ươm mầm, nuôi trồng các giống cây có thể được khai thác tại các vùng thuộc địa. Đến thời kỳ Cách mạng Pháp (1789), khu vườn mở rộng Bảo tàng Quốc gia Lịch sử Tự nhiên, rồi thành lập thêm một vườn thú vào năm 1794, nhằm đón nhận các loài động vật được nuôi trong vườn thú hoàng gia ở cung điện Versailles. Lúc sinh tiền, vua Louis XV từng nuôi một con tê giác, nguyên là món quà tặng cho nhà vua. Con tê giác này sau đó đã được nhồi bông và hiện vẫn còn được trưng bày tại Đại sảnh Tiến hóa (Grande Galerie de l'Évolution)». Cũng theo ông Bruno David, nhiều vì vua khác tại Pháp cũng đã nhận những món quà tương tự. Vào năm 1826, nhà nước Ai Cập đã tặng cho Vua Charles X một con hươu cao cổ (tên là Zarafa). Đây là lần đầu tiên, một con thú hoang cỡ lớn được chở bằng tàu thủy từ Cairo đến cảng Marseille. Sau đó, con hươu được dẫn đi bằng đường bộ, từ miền nam nước Pháp lên thủ đô Paris ở phía bắc, đoàn người dẫn hươu được cảnh sát cưỡi ngựa hộ tống, thu hút sự tò mò cả nhiều khách qua đường. Cả đoàn đi bộ gần 900 cây số trong vòng 41 ngày, một sự kiện được giới báo chí thời bấy giờ quan tâm rất nhiều. Trước những biến động của lịch sử. Vườn Bách Thảo cũng đã trải qua bao thăng trầm. Vào thời Đệ nhị Thế chiến, mọi hệ thống sưởi ấm bị cắt giảm để tiết kiệm năng lượng trong thời chiến, trong khi nước Pháp đang trải qua một mùa đông khắc nghiệt cuối năm 1944, nên hầu như mọi cây cối trong nhà kính đều đã chết, ngoại trừ một cây cọ vùng Bermuda. 80 năm sau, cây cọ này vẫn còn được trưng bày trong nhà kính của Jardin des Plantes. Thời hậu chiến, việc trồng cây nhiệt đới đã nhanh chóng được phục hồi, qua việc duy trì các nhà kính có hệ thống sưởi ấm và tưới nước thường xuyên. Trong khuôn viên Jardin des Plantes, nhiều cây cối ở ngoài trời đều được tưới nước bằng máy, trong khi các giống cây nhiệt đới lại được tưới bằng tay. Là người có nhiệm vụ giám sát công việc này, chuyên gia Denis Larpin cho biết vì sao : « Chúng tôi tưới nước bằng tay vì đó là phương pháp đáng tin cậy và an toàn nhất. Các thợ làm vườn ở đây đều biết rõ nhu cầu của từng nhóm cây được trồng trong nhà kính : cây cần được tưới vào lúc nào, tưới ít hay nhiều là còn tùy theo từng giống. Theo tôi nghĩ, phương pháp thích hợp nhất là điều chỉnh lượng nước tưới với nhiệt độ bên ngoài, và chỉ tưới nhiều khi thật sự có nhu cầu. Nhà kính có chiều cao hơn 15 mét, nhưng vẫn chưa đủ với một số loài cây nhiệt đới. Các loại dây leo có thể phát triển rất nhanh, đôi khi chỉ cần vài ngày, dây leo đã mọc đầy thân cây. Đôi khi thợ làm vườn, phải tỉa bớt các ngọn cây, vì sự phát triển nhanh của chúng có thể làm nứt vỡ trần nhà bằng kính. Trong các nhà kính, có rất nhiều loài cây nhiệt đới được trồng bên cạnh nhau, khách tham quan rất thích thú vì họ có cảm tưởng đi lạc vào một khu rừng rậm hoang dã miền nhiệt đới ». Được thành lập cách đây bốn thế kỷ, Jardin des Plantes ở Paris là một cột mốc lịch sử, đánh dấu các ứng dụng thực vật học vào ngành y khoa và có từ trước thời khai sinh khái niệm bảo tồn đa dạng sinh học. Ban đầu được hình thành để trị bệnh cho vua Louis XIII, khu vườn này sau đó đã được chuyển đổi thành một viện bảo tàng quốc gia, nơi lưu trữ các bộ sưu tập động thực vật quý giá. Ngày nay, không gian này giống như một « ốc đảo » bình yên giữa chốn đô thị náo nhiệt, nơi lui tới của các nhà nghiên cứu khoa học, nơi hẹn hò của những người yêu thảo mộc và cây xanh, dưới bầu trời an lành, một khung cảnh đẹp như tranh.

Diễn ra hàng năm từ 20 năm qua tại Paris, triển lãm Art Capital là một trong những sự kiện quan trọng của giới nghệ thuật đương đại Pháp và quốc tế. Năm nay, Art Capital đã được tổ chức từ ngày 13 đến 15/02/2026 tại Grand Palais ( Cung điện lớn ), quy tụ hơn 3.000 nghệ sĩ nhằm tôn vinh sự sáng tạo trong mọi hình thức đa dạng, từ hội họa, điêu khắc, đến nhiếp ảnh, sắp đặt, tạo nên mối liên kết giữa truyền thống và sự sáng tạo đương đại. Được chính các nghệ sĩ tổ chức, Art Capital dành ưu tiên cho sự tương tác gần gũi, khách tham quan có thể trò chuyện thoải mái với các nghệ sĩ, khám phá nguồn cảm hứng của họ, tìm hiểu quá trình sáng tạo của họ. Triển lãm được chia thành bốn khu chính Salon des indépendants ( nghệ sĩ độc lập ), Salon des artistes français ( nghệ sĩ Pháp ), Salon Dessin & Peinture à l’Eau ( Tranh màu nước ) và đặc biệt là Salon des Comparaisons ( quy tụ các nhóm nghệ sĩ cùng khuynh hướng ). Năm nay, Salon des Comparaisons có 36 nhóm. Các nghệ sĩ do chính mỗi trưởng nhóm tuyển chọn và mời tham gia, như trường hợp của họa sĩ Nguyễn Kim Chi, một nghệ sĩ người Việt theo trường phái chủ nghĩa biểu hiện ( expressionisme ) mà tác phẩm được triển lãm rất nhiều tại Pháp hiện nay. Bức tranh mà Kim Chi cho trưng bày tại Art Capital năm nay mang tên “A la table ovale”. Trả lời RFI, họa sĩ Kim Chi giải thích: “Tác phẩm trưng bày ở đây có tên là “Ở Bàn Ovale”, gồm một nhóm người, đa phần là nu ( khỏa thân ). Ý của mình muốn nói là cảnh đó có thể ở bất cứ đâu: Từ gia đình đến xã hội hoặc bất cứ quốc gia nào thì con người ta là bình đẳng. Trong tác phẩm của mình có khoảng sáu bảy người đang trò chuyện với nhau. Tác phẩm của mình bao giờ cũng mang một hướng mở. Họ trò chuyện về cuộc sống của họ. Họ chất vấn hay hoài nghi, lo âu, tất cả được thể hiện trong hành vi, trạng thái của nhân vật trong tác phẩm. Khi đến trước tác phẩm, người xem cảm thấy chính họ trong tác phẩm.” Nguyên là giảng viên Khoa Mỹ thuật Đại học Đồng Tháp, Kim Chi đã sang Pháp định cư từ năm 2012, hiện sống tại vùng Normandie. Kim Chi điểm lại con đường nghệ thuật của cô: “Con đường nghệ thuật mình bắt đầu từ rất sớm. Từ năm 11 tuổi, mình đã được gia đình, nhà trường đưa vào trường nghệ thuật dành cho trẻ em.Sau đó thì cơ duyên đưa mình tới Đại học Mỹ thuật, rồi trở thành giảng viên Đại học Đồng Tháp, chuyên ngành mỹ thuật. Con đường của mình gắn liền từ rất lâu và cứ sáng tác thôi. Mình tới Pháp khoảng năm 2012 và bắt đầu con đường nghệ thuật từ lúc đó. Ngay lúc đầu vừa tới Pháp thì có một sự giao thoa mới về văn hóa, cho nên sáng tác của mình lúc đầu mang xu hướng chủ nghĩa ấn tượng giống như Claude Monet chẳng hạn. Đó là sự giao thoa thôi. Mình muốn tìm hiểu cái gì mới hơn, nhưng cuối cùng mình vẫn quay trở lại con đường chủ nghĩa biểu hiện. Mình muốn thể hiện nội tâm của mình, có nghĩa là thể hiện những gì người khác không thể hiện được. Mình có thể bày tỏ cảm xúc đó qua nhân vật được trình bày trên tác phẩm.” Kim Chi hiện sống ở vùng Normandie, tức là vùng không quá xa Paris, nên thủ đô của văn hóa thế giới ảnh hưởng rất nhiều đến nghệ thuật của nữ họa sĩ: “Tác động rất lớn, tại vì Paris là một nơi rất rộng lớn về giao thoa văn hóa khắp nơi trên thế giới. Được trưng bày tác phẩm của mình ở một nơi như thế này là một điều rất là may mắn. Một số họa sĩ Việt Nam cũng như các họa sĩ ở đây nói mình chọn con đường nghệ thuật này là khó khăn. Chẳng hạn khó có ai mà treo một tác phẩm buồn trong nhà của mình, trừ những nhà sưu tập lớn. Đa phần người ta thích, nhưng người ta lại chưa dám mua để treo. Nói chung cũng tùy sở thích của mỗi người, mình không biết được. Để nổi tiếng, có tài cũng chưa đủ, mà còn phải có duyên. Đầu tiên là mình vẽ cho mình trước, mình thể hiện những gì mình muốn nói, rồi sau đó để cho những khán giả nhìn tác phẩm, tiếp cận với mình thông qua tác phẩm. May mắn là tranh của mình được trưng bày, được người ta thưởng lãm và có những bình luận rất tích cực. Con đường mới khám phá thì rất là nhiều, quá rộng lớn, còn mình là một họa sĩ thì mình giống như một hạt cát nhỏ trong một môi trường nghệ thuật vô cùng rộng lớn ở đây. Khó khăn là ở Pháp có quá nhiều họa sĩ, rất, rất nhiều họa sĩ. Khó khăn lớn nhất đó là tìm ra con đường của chính mình và phải đi đúng hướng. Cho tới lúc này mình đã tìm được con đường đi của mình và đang đi đúng hướng. Bằng chứng là mình đang ở Art Capital. Đây là lần thứ tư mình triển lãm ở Art Capital. Bên cạnh đó, có những salon khác đã mời mình triển lãm, ví dụ như Figuration critique vừa rồi ở Bastille và Biennale 109 ở Bastille. Những salon khác thì mời mình làm “họa sĩ danh dự” cho salon của họ và một số gallery.” Năm 2025, họa sĩ Kim Chi đã có dịp trở lại Việt Nam và lần đầu tiên đã có một cuộc triển lãm ở Việt Nam mang tên “Gió”, chủ yếu cũng xoay quanh chủ đề về thân phận con người. Vì sao đó vẫn là chủ đề bao trùm các tác phẩm của cô, Kim Chi giải thích: “Lần đầu tiên trở về triển lãm ở Việt Nam, mình chọn chủ đề là Gió. Gió của mình có đa nghĩa: gió ở trong lòng, gió quê hương và gió của những cái mà mình gọi là những mảnh đời. Triển lãm lúc đó là đa phần là gam tối. Gió có nghĩa là ngày trở về, tìm lại những ký ức tuổi thơ ở quê hương của mình. Trong những tác phẩm tối đó, ai cũng nói là tối rất buồn, nhưng thực sự đó là ấn tượng từ hồi trẻ thơ của mình, sống ở một vùng ngoại ô nghèo. Đa phần người ta dùng đèn dầu để thắp sáng, thì ánh sáng đó phản chiếu bóng của cha mẹ mình, người thân của mình, người đi làm đồng về, hay những người ở ngoài chợ. Cái bóng của họ buồn bã, xiêu vẹo, như của những người nghèo chẳng hạn. Ấn tượng đối với mình nó sâu sắc từ lúc đó cho tới bây giờ. Kỷ niệm lớn nhất đối với mình đó là mỗi lần đạp xe đi học, tới trường cấp ba ở trung tâm thị xã Cầu Lãnh. Trong thời gian đó, đi học về thì mình vẽ. Tự mình thích thì mình vẽ thôi. Kỷ niệm tiếp theo khó mà quên, đó là mình hay đi dạo trên bờ đê. Ông ngoại của mình là cũng là một nông dân. Khi ông ngoại xách cây đèn dầu, đi phía sau mình thấy cái bóng của ông phản chiếu. Những hình ảnh đó luôn ở trong trong tâm trí của mình và nó được thể hiện trên tác phẩm. Cho nên trong các tác phẩm của mình luôn có những nhóm người đi ngược sáng. Ngày về quê của mình năm vừa rồi có triển lãm tại Bảo Tàng Mỹ Thuật Thành phố Hồ Chí Minh với 65 tác phẩm mang chủ đề "Gió" và thể hiện những thân phận con người nghèo như vậy. Thật ra ý đồ là nhằm biểu hiện về chiều sâu, thứ nhất là chiều sâu về tâm hồn, chiều sâu phản ánh cuộc sống. Cho nên đa phần là màu tối. Cái gu của mình là thích sự tương phản mạnh, sự mạnh mẽ trong tác phẩm”. Năm 2015, Kim Chi đã thành lập Hội Mỹ thuật La Seine et le Mekong (Sông Seine và sông Mekong), như là một nhịp cầu văn hóa, tạo điều kiện để các nghệ sĩ Việt Nam sang Pháp và các nghệ sĩ Pháp đến với Việt Nam, giúp họa sĩ có cơ hội khám phá nền văn hóa của mỗi nước. Nhưng kể từ đại dịch Covid-19, Hội tạm ngưng hoạt động. Họa sĩ Kim Chi cho biết: “Hội La Seine Mekong của mình là một chiếc cầu nối giao lưu văn hóa giữa hai nước Pháp Việt. Nhưng trước tiên là mình cần rất nhiều sự tài trợ. Mình được sự tài trợ của Département de la Seine - Maritime và một thành phố lân cận. Đã có 4 édition ( Triển lãm Giao lưu văn hóa nghệ thuật ) được thực hiện. Edition thứ năm thì bị gián đoạn do Covid, tới hôm nay thì vẫn chưa redémarrer ( khởi động lại ) được. Hi vọng là Hội sẽ sớm tổ chức lại hoạt động. Họa sĩ thì đã sẵn sàng nhưng trước tiên phải tìm nhà tài trợ. Và thứ hai là hiện giờ con gái mình còn nhỏ, cho nên vẫn chưa thực hiện được lúc này. Việt Nam rất sẵn sàng và ở Pháp cũng vậy. Nói chung là giữa hai bên mình có những bình luận, những ý kiến rất là tích cực và luôn muốn thúc đẩy Hội phát triển càng ngày càng mạnh hơn nữa.” Sống xa quê hương từ nhiều năm nay, Kim Chi cho biết cô vẫn cố duy trì vốn tiếng Việt và mối liên hệ với quê hương : “Thứ nhất là mình thích nghe nhạc Việt Nam để mình giữ ( tiếng Việt ), vì mình không có nhiều cơ hội để nói tiếng Việt ở đây. Nghe nhạc Việt Nam, xem hài kịch Việt Nam để mình nhớ lại những từ vựng tiếng Việt.Thứ hai là cứ hai năm mình về Việt Nam một lần để giữ mối liên lạc với bạn bè. Tại vì đi đâu cũng vậy, đi khắp nơi trên thế giới, mình vẫn là người Việt Nam.”

Xuất phát từ vùng vịnh Ba Tư, Chocolat Dubai là một loại sô cô la có nhân màu xanh lá cây, pha trộn quả hồ trăn (pistachio) xay nhuyễn với mì sợi mỏng rang giòn (kadayif) của Trung Đông. Trở nên thịnh hành cách đây hai năm nhờ mạng xã hội, Sô cô la Dubai giờ đây có thêm nhiều sản phẩm khác được chế biến theo cùng một công thức. Giới chuyên ngành ẩm thực gọi đó là « Dubai Style » (Phong cách Dubai). Trên thị trường Pháp hiện nay, các sản phẩm làm theo kiểu Dubai trở nên phổ biến tại các siêu thị. Theo kênh truyền hình France 24, ngoài các loại sô cô la nhân quả hồ trăn pistachio, người tiêu dùng ở Pháp còn tìm thấy đủ kiểu bánh ngọt, kem đông lạnh, bánh quy, ngũ cốc giòn dành cho bữa ăn sáng, hay mứt cacao trộn hạt dẻ (phết bánh mì) với mùi hương giống như Sô cô la Dubai. Điểm chung giữa các sản phẩm này vẫn là giá cả. Khi được gắn hiệu « Dubai Style », mặt hàng vẫn có giá cao hơn nhiều. Để so sánh, một thanh sô cô la 145 gram hiệu Lindt được bán tại Pháp với giá trung bình xấp xỉ 10 euro, tức cao gấp bốn lần giá của một thanh sô cô la thông thường. Trên đà thành công của Dubai Style, nhiều nhà chế biến sô cô la tại Pháp đã bắt nhịp trào lưu, trong số này có ông Pierre Raulet, thợ chuyên làm bánh ngọt tại thành phố Strasbourg và hiện làm chủ của 7 điểm kinh doanh ở vùng Alsace. Theo ông Pierre Raulet, giá sô cô la kiểu Dubai tương đối cao, chủ yếu do thành phần chế biến cũng như công thức thủ công : « Tôi đã có ý tưởng làm sô cô la nhân pistachio từ vài tháng qua, khi nhìn thấy trào lưu này trên mạng xã hội, tôi nghĩ đã đến lúc mình nên bắt tay thực hiện. Hương vị của sô cô la kiểu Dubai ban đầu khá rõ rệt nhờ mùi hương tự nhiên của hạt pistachio (quả hồ trăn) kết hợp với hương thơm của kadayif, loại mì sợi nhỏ đến từ phương Đông. Sợi mì Kadayif có hương vị khá đặc biệt khi được rang giòn. Nhân sô cô la phải được trộn đều bằng tay kết hợp độ sánh nhuyễn của pistachio với độ giòn rụm của mì sợi nhỏ, tất cả sau đó được bao bọc bởi một lớp sô cô la đậm đặc, ngọt ngào. Cách làm sô cô la kiểu Dubai công phu hơn sô cô la thông thường, đòi hỏi thêm một số công đoạn. Nếu hoàn toàn được làm bằng tay, một nhà chế biến chỉ có thể làm khoảng năm mươi thanh sô cô la thủ công mỗi ngày ». Sô cô la theo kiểu Dubai không còn nhất thiết phải dùng hạt pistachio với sợi mì kadayif. Tại vùng Occcitanie, miền tây nam nước Pháp, cô Alice, chủ cửa hàng bánh ngọt « Ô gourmandises d'Alice » cho biết cô thường thay thế các thành phần chế biến bằng những đặc sản địa phương : « Chúng tôi dùng quả hạnh nhân đem nướng cho thật chín để tạo thêm hương thơm. Cách chế biến này giống như cách làm kẹo praliné. Mùi vị thơm như nhau, khác hay chăng là hạnh nhân chuyển sang màu nâu nhạt, chứ không có màu xanh lục như hạt pistachio. Để cho nhân chocolat thêm giòn, chúng tôi nghiền nát những miếng bánh quy rồi trộn thêm vào hạnh nhân xay nhuyễn. Loại bánh quy giòn ở đây là loại Croquants de Cordes, nguyên là một đặc sản của vùng sông Tarn, mà thủ phủ là thành phố cổ kính Albi. Ở đây, chúng tôi bán nhiều loại chocolat mùi hạnh nhân, mỗi thanh 200 gram, nhưng giá vẫn mềm hơn so với sô cô la Dubai ». Về phần mình, Nathalie, nhà quản lý tiệm bánh « Sweet Délices » gần thành phố Montauban, cho biết, ngoài sô cô la, cửa hàng này còn bán thêm các loại nhân hạt dẻ, hạt phỉ, hạnh nhân hay pistachio đựng trong hũ, có thể được dùng như mứt để phết bánh mì ăn sáng, nhưng cũng có thể được dùng như « nhân sô cô la » cho những ai muốn tự làm sô cô la kiểu Dubai ở nhà : « Đối với những người mới bắt đầu học cách làm sô cô la, việc tự chế biến các thanh sô cô la theo kiểu Dubai, vẫn khá dễ làm. Tại cửa hàng chúng tôi, có đủ loại thành phần dùng để chế biến : từ bột cacao khuấy tan để tạo ra nhiều lớp sô cô la, cho đến các loại nhân trộn sẵn và cuối cùng là đủ kiểu khuôn đúc để thợ làm bánh có thể tạo sô cô la với mùi vị và hình dáng tùy theo ý mình. Trào lưu tự chế biến sô cô la Dubai ở nhà rất được ưa chuộng, trở nên thịnh hành phổ biến nơi người tiêu dùng vì các thanh sô cô la tự làm, rẻ hơn nhiều so với các hiệu sô cô la Dubai được bán ngoài siêu thị ». Trong thời gian qua, mạng xã hội đã phát cuồng với những thanh Sô cô la « kiểu Dubai ». Tuy nhiên, loại sô cô la này không chỉ có nhiều đường mà lại hàm chứa nhiều chất phụ gia của ngành công nghiệp ẩm thực. Theo kênh truyền hình France 24, thành công của các sản phẩm « Dubai Style » phần lớn dựa vào chiến lược tiếp thị tài tình trên mạng thông qua những người có tầm ảnh hưởng, nhiều hơn là nhờ vào hương vị đặc biệt cũng như giá trị dinh dưỡng. Cũng như hầu hết các trào lưu phổ biến trên mạng, Sô cô la Dubai tuy có nhiều danh tiếng, nhưng chưa chắc gì là một sản phẩm có chất lượng. Theo một cuộc khảo sát gần đây của cơ quan bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng UFC-Que Choisir, trên 6 loại sô cô la kiểu Dubai, thành phần chế biến chính là hạt pistachio lại không nhiều như ta tưởng. Mặc dù giá sô cô la Dubai có thể dao động từ 85 euro (loại làm tại châu Âu) cho đến 200 euro một kílô (loại nhập từ vùng vịnh Ba Tư), nhưng lượng pistachio chỉ đạt mức 17% trên danh sách các thành phần chế biến. Riêng trên thị trường Pháp, hai hiệu phổ biến nhất vẫn là sô cô la Mardinni khoảng 65 euro một kí lô, nhập khẩu từ Thổ Nhĩ Kỳ và phiên bản Dubai Style của Lindt 80 euro một kí lô, sản xuất tại Thụy Sĩ, tuy không ngọt bằng các loại nhập từ Dubai, nhưng theo đánh giá của cơ quan UFC-Que Choisir, vẫn có quá nhiều đường, ăn rất dễ ngấy : sô cô la kiểu Dubai của Lindt chứa đến 46% đường, còn hiệu Mardinni có hơn 40%. Trong các thành phần chế biến, cuộc khảo sát cũng cho thấy sô cô la Dubai chỉ có từ 11% đến 17% hạt pistachio, phần còn lại là chất béo của bơ, dầu cọ, bột ngô, mạch nha lúa mạch, dầu lecithin trích từ hạt hướng dương hoặc đậu nành, chiết xuất tảo xoắn, vani nhân tạo và chất tạo màu lutein … Nhìn chung, theo cơ quan UFC-Que Choisir, sô cô la kiểu Dubai có nhiều chất phụ gia cũng như các thành phần siêu chế biến trong ngành công nghiệp thực phẩm, hầu tạo mùi và cho thêm màu. Vào mùa lễ Phục Sinh, các hộ gia đình ở Pháp thường có truyền thống mua sô cô la để biếu tặng cho nhau. Dù thịnh hành trên mạng xã hội, nhưng dường như Sô cô la Dubai vẫn chưa có thể soán ngôi các quả trứng đơn giản bằng chocolat thường được bày bán vào mùa này. Giá trung bình của Sô cô la Dubai vẫn còn cao, trong khi giá trị dinh dưỡng lại chẳng có là bao, riêng mùi vị dường như chỉ hợp với những ai thích ăn các món cực kỳ béo bùi, ngậy vị « ngọt ngào ».

Theo thông báo hôm 19/02/2026 của bộ Kinh Tế Pháp, cơ quan chủ quản lĩnh vực du lịch, trong cả năm 2025, có 102 triệu lượt khách quốc tế đến Pháp, tăng 2 triệu so với năm 2024. Paris một lần nữa khẳng định được vị thế là điểm đến được du khách ghé thăm nhiều nhất thế giới. 70% du khách quốc tế đến Pháp du lịch tập trung về « kinh đô ánh sáng » Paris và miền nam Pháp. Doanh thu từ du khách quốc tế của Pháp cũng tăng 9%, đạt 77,5 tỷ euro, một con số cao kỷ lục. Tính trung bình, mỗi khách chi tiêu 766 euro trong 1 kỳ nghỉ ở Pháp. Tuy nhiên, nếu so sánh với nước láng giềng phía nam Tây Ban Nha, một đối thủ đáng gờm đang theo sát nút Pháp, với 97 triệu lượt khách, thì doanh thu của Pháp còn « thua xa » Tây Ban Nha. Theo ước tính của Atout France, Cơ quan xúc tiến và phát triển du lịch Pháp, đặc trách quảng bá du lịch Pháp với du khách nước ngoài, doanh thu của Tây Ban Nha là 105 tỷ euro, cao hơn Pháp khoảng 35%. Mục tiêu bộ Kinh Tế Pháp đề ra là đạt doanh thu 100 tỷ euro từ du khách quốc tế vào năm 2030. Theo Adam Oubuih, tổng giám đốc của Atout France, được trang mạng đài France Bleu trích dẫn, nỗ lực đa dạng hóa là cần thiết để « giới thiệu tất cả những gì nước Pháp có thể cung cấp », và Atout France « đang nỗ lực quảng bá di sản, du lịch kinh doanh, du lịch rượu vang và du lịch thể thao, trên tất cả các vùng của nước Pháp lục địa và các vùng lãnh thổ hải ngoại » của Pháp. Để hiểu thêm về thực trạng du lịch Pháp, RFI Tiếng Việt hôm 20/03 phỏng vấn giáo sư địa lý Jean-René Morice, đại học Angers, chủ tịch INNTO France, mạng lưới các các viện và trường đại học tại Pháp chuyên đào tạo và nghiên cứu về du lịch. RFI : Nước pháp ngày càng thu hút du khách quốc tế. Theo ông, đâu là những nét hấp dẫn khách ngoại quốc đến Pháp ? Yếu tố nào giúp Pháp thành công hơn các nước khác ? Jean-René Morice : Quả thực Pháp là một điểm đến rất phổ biến trên thế giới, được tìm kiếm rất nhiều, và thu hút đông đảo du khách. Năm nay, số liệu do Atout France công bố cho thấy có 102 triệu lượt du khách quốc tế đến Pháp. Sự năng động này thực ra đã có từ rất lâu rồi, bắt đầu từ những năm 1980. Nhưng dẫu sao thì vị thế của Pháp cũng tăng mạnh, Pháp trở thành điểm đến du lịch. Các phân tích cho thấy những điều du khách chú ý ở các điểm đến chủ yếu vẫn mang tính văn hóa. Cụ thể, 56% du khách quốc tế đến sân bay Roissy, khi được khảo sát về lý do chọn nước Pháp để đến du lịch, trên hết đã nói đến hình ảnh văn hóa Pháp theo nghĩa rộng, đặc biệt là ẩm thực, nhưng cũng bao gồm văn hóa, di sản, bảo tàng và cảnh quan. Đó là những lý do lựa chọn hàng đầu. Ngoài ra còn có những khía cạnh khác, đặc biệt là với du khách đến từ châu Á, nhóm du khách đang tăng mạnh, thì họ quan tâm đến một số nội dung tương đối mới, ví dụ như du lịch mua sắm. Mảng này cũng đóng góp rất nhiều. Nhưng nhìn chung, Pháp vẫn là một điểm đến với hình ảnh văn hóa chiếm ưu thế. RFI : Kỷ lục 102 triệu lượt khách quốc tế đến Pháp trong năm 2025 phần nào có được là nhờ ảnh hưởng của Thế Vận Hội Mùa Hè Paris 2024 và việc mở cửa trở lại nhà thờ Đức Bà Paris ? Jean-René Morice : Cũng có thể là như vậy. Cá nhân tôi chưa thực hiện một nghiên cứu cụ thể nào về khía cạnh này, nhưng tôi cũng nghĩ rằng kết quả này chủ yếu là do bối cảnh toàn cầu. Điều đó có nghĩa là xu hướng du khách tăng như hiện nay không chỉ là ở riêng Pháp. Sự gia tăng này cũng được ghi nhận khắp nơi trên thế giới. Chúng ta vẫn đang trong thời kỳ hậu Covid, với sự hồi phục của các hoạt động tương đương, hoặc thậm chí cao hơn một chút so với thời kỳ tiền Covid năm 2019. Sự phục hồi đang diễn ra, và theo tôi, thì con số này tới đây sẽ còn tiếp tục tăng, đặc biệt là với nhóm khách du lịch đến từ châu Á, dù hiện vẫn còn khá khiêm tốn, nhưng cũng đang trên đà tăng. Hiện nay chúng ta đang ở trong một bối cảnh phức tạp, với chiến tranh ở Ukraina và xung đột, đặc biệt là tình hình các nước Ả Rập ở Vùng Vịnh. Chúng ta có thể thấy rõ ràng là xung đột đang có tác động đến các hoạt động của người dân Vùng Vịnh, trong đó có du lịch, nhưng rõ ràng là ở nhiều nước, như Ả Rập Xê Út và Các Tiểu Vương Quốc Ả Rập Thống Nhất, du lịch có sự phát triển bùng nổ. Quả thực là du lịch đã trở thành một hiện tượng toàn cầu, và sự toàn cầu hóa này đương nhiên cũng khiến có thêm nhiều người đến du lịch ở Pháp. Thế nên, không phải chỉ là nhờ Pháp nỗ lực mà còn là nhờ bối cảnh toàn cầu có lợi cho Pháp. RFI : Khách du lịch đến từ quốc gia nào là đông nhất nhất ? Chủ yếu đó là khách châu Á, châu Âu hay người Mỹ ? Jean-René Morice : Du khách chủ yếu là người châu Âu. Mọi người cứ gọi là du khách quốc tế, nhưng thực ra chủ yếu vẫn là khách đến từ những nước xung quanh. Du khách đến nhiều nhất là từ Anh, sau đó đến người Đức. Cũng có nhiều du khách Hà Lan. Nếu tôi nhớ không nhầm thì khoảng 46% khách du lịch quốc tế hiện nay đến từ châu Âu. Cũng có nhiều khách đến từ các nước khác. Có thể nói đến khách Mỹ, nhiều người Mỹ đi du lịch châu Âu và đặc biệt là đến Pháp. Rồi còn có khách châu Á, ngày càng có nhiều khách đến từ châu Á, và sau đó đặc biệt là du khách đến từ các quốc gia vùng Vịnh. RFI : Mặc dù thu hút tới 102 triệu du khách quốc tế, đông nhất thế giới, nhưng Pháp lại không phải nhà vô địch về doanh thu từ du lịch, ví dụ như thấp hơn nhiều so với nước láng giềng ở phía nam là Tây Ban Nha, cũng một đối thủ tại châu Âu của Pháp trong ngành du lịch. Có phải đó là do mức chi tiêu của du khách tại Pháp không thật là cao ? Jean-René Morice : Đây đúng là một vấn đề lớn của nước Pháp. Chính vì thế, bây giờ chúng ta phải thực sự cân nhắc. Liệu chúng ta có nên tiếp tục xác định các nước là điểm đến du lịch toàn cầu, hay thậm chí ở cấp độ các địa điểm du lịch, ví dụ như những lâu đài, cung điện hay bảo tàng như bảo tàng Louvre, cung điện Versailles, nữa hay không ? Liệu chúng ta có nên tiếp tục cứ tập trung vào xét dựa theo số lượng khách đến tham quan hay không ? Có lẽ là không, bởi vì du lịch cũng là một hoạt động mang tính xã hội, là sự gặp gỡ giao lưu với người khác một cách có nghệ thuật. Không thể phủ nhận rằng du lịch là một yếu tố quan trọng và có khía cạnh liên văn hóa rất rõ rệt. Thế nhưng, chúng ta có thể thấy rõ ràng là ngoài khía cạnh gặp gỡ và hoạt động mang tính xã hội, thì du lịch vẫn là hoạt động mang tính kinh tế. Và yếu tố kinh tế này chính là doanh thu được tạo ra từ các hoạt động du lịch. Chúng ta có thể thấy rõ ràng rằng Tây Ban Nha đang dẫn đầu về doanh thu du lịch, nhưng Hoa Kỳ cũng vậy, và Hoa Kỳ còn dẫn trước Pháp rất xa. Pháp hiện giờ chỉ đứng thứ 3 hoặc thứ 4 thế giới về lợi ích kinh tế mà du lịch mang lại. Chúng ta có thể thấy rõ Pháp chắc chắn là một điểm đến du lịch hàng đầu về các hoạt động và số lượng du khách, nhúng ta cũng thấy rằng thời gian lưu trú của khách tại Pháp thường rất ngắn. Điểm độc đáo của Pháp là Pháp nằm ở vị trí trung tâm ở châu Âu. Do đó, khi du khách châu Âu quá cảnh qua Pháp, ví dụ, một du khách Bỉ muốn đến Tây Ban Nha thì sẽ đi bằng ô tô, sẽ quá cảnh qua Pháp, và người này sẽ được tính là một lượt khách lưu trú tại Pháp. Sau đó, họ sẽ dành 8-9 ngày ở Tây Ban Nha. Rồi trên đường về, họ sẽ lại đi qua Pháp, lại được tính là thêm một lượt khách lưu trú, nhưng mỗi lần chỉ 1-2 đêm tại Pháp. Kết quả là vị khách du lịch người Bỉ này đã thực hiện một chuyến đi du lịch gồm 3 lần lưu trú riêng biệt : 2 lần ở Pháp và 1 lần ở Tây Ban Nha. Thế nhưng, xét về số đêm lưu trú, thì trong chuyến đi, tổng cộng họ nghỉ tại Tây Ban Nha 8 đêm trong khi Pháp chỉ được có 2-3 đêm thôi. RFI : Đó là lý do nhiều người cho rằng Pháp là một nước mà du khách quốc tế đi qua để đến nước khác, một quốc gia trung chuyển, quá cảnh, hơn là một điểm đến du lịch thực thụ, hoặc một nơi tham quan chính ? Jean-René Morice : Thực ra thì Pháp vẫn là một quốc gia điểm đến. Điểm đặc biệt của người Pháp là họ thường đi nghỉ ngay chính tại nước Pháp. Người ta gọi đó là một nền du lịch nội địa, nền du lịch quốc gia rất mạnh, điều này cũng có nghĩa là hoạt động du lịch ở Pháp không chỉ thu hút khách quốc tế mà cả khách trong nước, cho phép Pháp vẫn là một điểm đến tham quan chính, hoặc ít nhất là Pháp cũng là một nước mà du lịch là một lĩnh vực quan trọng. Nhưng cũng đúng là có rất nhiều du khách quá cảnh để sang nước khác, bởi vì Pháp thực sự là một trung tâm trung chuyển hàng không, nhất là đối với du khách từ châu Á hoặc các nơi khác, những người sẽ quá cảnh qua Paris chẳng hạn, và sau đó tiếp tục khám phá phần còn lại của châu Âu. Pháp nằm ở trung tâm của châu Âu nên là một điểm trung chuyển quan trọng, với rất đông người quá cảnh. Nhưng mà dẫu sao thì Pháp cũng vẫn là một điểm đến phổ biến, bởi vì có đến 102 triệu lượt khách lưu trú, cho dù chỉ là những kỳ nghỉ rất ngắn. Vì thế, một trong những thách thức mà bộ trưởng Du Lịch Pháp, Serge Papin, và Atout France, đang giải quyết hiện nay là làm thế nào để doanh thu cũng tăng. Nói cách khác là làm thế nào để đưa những chuyến du lịch ngắn này trở thành những chuyến du lịch dài hơn và qua đó khẳng định vị thế của Pháp như một điểm đến du lịch. RFI : Nhóm du khách nào chi tiêu nhiều nhất khi du lịch ở Pháp ? Jean-René Morice : Tôi không có số liệu chính xác, phải nói thành thật là như vậy. Nhưng tôi biết rằng người Mỹ có mức chi tiêu trung bình khá cao. Tôi cũng cho rằng đó là nhóm những du khách đến từ vùng Vịnh, và những nhóm du khách quan tâm đến hàng cao cấp, xa xỉ, nhất là khách châu Á. Họ thường có mức chi tiêu trung bình cao hơn một chút so với khách du lịch châu Âu. Người châu Âu thường có xu hướng đi du lịch bằng ô tô và chọn các loại hình chỗ ở khác, ví dụ các khu cắm trại ngoài trời. Chúng tôi biết là khách du lịch đến từ những nước xa hơn và nhất l...

Nước Pháp, một trong những chiếc nôi của làng thời trang cao cấp, đã khai sinh nhiều thương hiệu nổi tiếng như Chanel, Dior, Givenchy, Lanvin, Yves Saint-Laurent… Trong thập niên 1980, còn phải kể đến Ungaro, Mugler, Jean-Paul Gaultier hay Torrente do bà Rose Torrente sáng lập. Điều mà công chúng ít biết đến là bà Rose Torrente chính là em gái của nhà thiết kế trứ danh Ted Lapidus, cả hai đều là những nhân vật nổi bật trong làng thời trang quốc tế. Tuần lễ thời trang Paris (từ 04/03 đến 10/03/2026) rơi vào dịp kỷ niệm 40 năm ngày thành lập Viện đào tạo thời trang của Pháp (Institut Français de la Mode) do bà Rose Torrente chủ xướng và điều hành trong vòng hơn hai thập niên, từ năm 1986 đến năm 2011. Cũng trong tháng này, nhà sáng lập hiệu thời trang Torrente đã cho ra mắt tập sách tựa đề « Haute Couture : Mon siècle de mode » (Thế kỷ thời trang cao cấp của tôi), kể lại cuộc đời và sự nghiệp của mình, một hành trình đầy đam mê nhưng cũng lắm gian truân. Quyển sách này là một cách để nhắc nhở những đóng góp của tác giả cho ngành thời trang Pháp và hy vọng tên tuổi của mình sẽ được nhìn nhận một cách đúng mức hơn. Rose Torente cho biết kiểu áo thiết kế đầu tiên của bà : « Thiết kế đầu tiên của tôi là bộ áo cưới. Cho dù không biết may vá thêu thùa, nhưng tôi hình dung trong đầu kiểu áo mà tôi muốn mặc trong ngày thành hôn. Với sự giúp đỡ của các thợ may, tôi đã "tạo ra" kiểu áo hợp nhất với mình. Đến khi thành lập thương hiệu, tôi không thể lấy tên chồng (là Mett) để đặt cho công ty, tôi cũng không thể lấy danh hiệu trùng với anh trai tôi là Ted Lapidus. Vào thời bấy giờ, tôi chơi với một nhóm bạn rất thích những bài hát tiếng Ý. Thế rồi đột nhiên, cái tên ''Torrente'' lại tự nhiên xuất hiện trong tâm trí, và tôi thấy Torrente là một cái tên khá hay, nghe rất lọt tai. Đối với tôi, đó là một điềm lành ». Tên thật là Rosette Lapidus, bà sinh ra trong một gia đình khá nổi tiếng trong làng thời trang : thân phụ cũng như cháu ruột đều là thợ may, còn anh trai là nhà tạo mốt nổi tiếng, từng thiết kế trang phục cho các ngôi sao quốc tế như Brigitte Bardot, Alain Delon hay John Lennon… Khi mới vào nghề, cô đã làm việc bên cạnh người anh trai trong mười năm với tư cách là trợ lý : « Gọi là trợ lý, nhưng thực ra tôi làm đủ mọi việc từ đầu đến cuối, kể cả làm người mẫu, mặc thử các bộ áo quần đang được thiết kế. Trong mười năm làm việc với Ted Lapidus, tôi đã quan sát cách làm việc của anh ấy và dĩ nhiên là Ted Lapidus đã truyền cho tôi nhiều cảm hứng sáng tạo. Từ áo khoác nhiều túi cho đến quần ghép nhiều mảnh theo kiểu safari, anh ấy thích may cho phụ nữ những bộ đồng phục nhưng vóc dáng vẫn thanh lịch sang trọng. Trong mắt của Ted Lapidus, phụ nữ thường thể hiện nét mạnh mẽ, dứt khoát thông qua cách ăn mặc của họ. Tôi thì lại hình dung ra những người phụ nữ dịu dàng hơn, trong những tà áo thướt tha mềm mại, đầy nữ tính và nét quyến rũ. Có thể nói, nhờ anh ấy mà tôi mới phát huy được năng khiếu thẩm mỹ nghệ thuật, chứ thời còn nhỏ, tôi không hề tưởng tượng rằng một ngày nào đó mình sẽ trở thành một nhà thiết kế ». Vào nghề thiết kế thời trang chủ yếu nhờ tự học, chứ không được đào tạo bài bản qua trường lớp, Rose Torrente đã mở cửa hàng đầu tiên vào năm 1969. Bà thiết kế trang phục một cách đơn giản, tôn vinh vẻ đẹp tự nhiên của phụ nữ, tuy nhiên bước khởi nghiệp khá gian nan, với nhiều điều kiện khắt khe từ phía giới chuyên ngành : « Sau khi làm việc với Lapidus, tôi đã giành được tự do, lập công ty riêng một cách nhanh chóng. Trong một thời gian ngắn, tôi đã tuyển bốn nhà thiết kế mới vào nghề để tạo ra những kiểu áo mới, một phong cách ăn mặc hợp thời. Vào thời ấy, chỉ có y phục may sẵn, thời trang cao cấp và các dòng xa xỉ phẩm. Tôi đã mở một cửa hàng ở số 9 đường Faubourg Saint Honoré, quận 8 Paris, nơi phụ nữ có thể tìm thấy những kiểu áo có nhiều chất lượng hơn so với y phục may sẵn, có thể mặc ban ngày nhưng đồng thời vẫn hợp với buổi tối trong những dịp vui chơi lễ hội. Đó là phong cách của hiệu Torrente ». Bà viết : « Khi tôi xin gia nhập nghiệp đoàn thời trang Pháp vào năm 1971, các điều kiện để được công nhận là "hiệu thời trang cao cấp" lúc bấy giờ rất khắt khe. Cũng may là trước đó, tôi đã làm đơn đăng ký cho anh tôi là Ted Lapidus, cho nên tôi biết đâu là những trở ngại, đâu là những cái bẫy cần phải tránh. Trong số các yêu cầu khắt khe, có quy định buộc công ty phải tuyển dụng 20 thợ may toàn thời gian, 7 người mẫu thường trú, công ty phải tổ chức thường xuyên các sự kiện qua hình thức showroom, và mỗi buổi ra mắt thường có khoảng 50 mẫu thiết kế. Các yêu cầu này tạo nhiều áp lực vì đòi hỏi rất nhiều công việc. Những ràng buộc đó khiến cho nhiều hiệu thời trang cao cấp bị phá sản, nếu không có hậu thuẫn tài chính, công ty buộc phải đóng cửa như trường hợp của Chistian Lacroix, Jean-Louis Scherrer và Emmanuel Ungaro, trong khi họ lại là những nhà thiết kế giỏi nhất. » Trong tập sách « Thế kỷ thời trang của tôi », Rose Torrente chia sẻ câu chuyện gia đình, kinh nghiệm của bà trong ngành thời trang. Thời kỳ huy hoàng của hiệu Torrente kéo dài trong ba thập niên : từ năm 1971 đến năm 2004. Tuy nổi tiếng ở nước ngoài, nhưng tên tuổi của Rose Torente, cũng như vai trò của nhiều phụ nữ khác trong ngành thời trang, vẫn ít được công nhận ở Pháp : « Thời nay, khách tham quan thường rủ nhau đến bảo tàng xem triển lãm. Nhưng điều lạ lùng là ngay trong các bảo tàng về thời trang hay nghệ thuật trang trí, tên tôi hầu như không được nhắc đến trong bất kỳ cuốn sách hay cuộc triển lãm nào, như thể tôi chưa từng tồn tại, cho dù vào những năm 1990, hiệu Torrente có đến hơn 80 cửa hàng tại Nhật Bản, Singapore, Trung Quốc hay tại New York. Thật là một điều bất công. Một số nhà phê bình cho rằng hiệu Torrente quá thương mại, chứ không có nhiều tính sáng tạo nghệ thuật. Có lẽ cũng vì khi vào nghề tôi không đeo đuổi khuynh hướng sáng tạo thời trang chỉ để phô trương. Tôi không thích xu hướng thời trang "ngoạn mục" nặng tính trình diễn, hiểu theo nghĩa được dàn dựng cho sân khấu. Dĩ nhiên có nhiều người thích các kiểu áo dạ hội, mỗi kiểu áo thêu tay cần hơn 300 giờ làm việc. Khi nhìn, nhiều phụ nữ muốn mặc một kiểu áo công phu, đắt tiền, nhưng trên thực tế có rất ít người có thể ăn mặc như vậy. Riêng tôi chỉ mong là những kiểu trang phục Torrente được dành cho càng nhiều phụ nữ càng tốt, những kiểu trang phục có thể mặc vào bất cứ dịp nào, chứ không bị bỏ quên trong tủ áo. » Bà Rose Torrente cũng từng đồng sáng lập Viện đào tạo Thời trang tại Pháp (Institut Français de la Mode), và giữ chức phó chủ tịch trong vòng 25 năm, trước khi giải nghệ về hưu vào năm 2005. Cũng như trường hợp của Jeanne Lanvin, bà Rose Torrente hy vọng là vai trò và vị trí của phụ nữ trong số các nhà thiết kế thời trang cao cấp, sẽ được giới chuyên ngành công nhận đúng mức : « Đó là lý do tại sao tôi viết cuốn sách này. Khi tôi ghé thăm trở lại Viện đào tạo Thời trang tại Pháp (IFM), tôi cảm thấy vui mừng khi nhìn thấy tất cả những gì thế hệ trẻ đang làm, họ muốn được đào tạo hầu duy trì và phát triển thời trang đất nước. Theo tôi nghĩ, chúng ta nên khuyên họ phát triển tính sáng tạo và đồng thời làm ra được những kiểu áo mà đa số mọi người có thể mặc. Sẽ là một điều sai lầm nếu cứ tiếp tục tạo ra những kiểu áo ngoạn mục, đập mắt chỉ vì muốn nổi bật trong các sự kiện, nhưng trên thực tế lại rất khó mặc. Điều khó nhất theo tôi vẫn là làm thế nào để dung hòa được thời trang "ấn tượng" bắt mắt với những thiết kế hợp thời mà dễ mặc. Nước Pháp có nhiều trường đào tạo tài năng để làm được những điều đó. Và những tài năng mới ấy cần có thêm càng nhiều cơ hội càng tốt. Đó là điều tôi mong muốn cho tất cả những nhà thiết kế trẻ tuổi ở Pháp. Đất nước may mắn có một quan hệ gắn bó từ lâu với ngành thời trang, một hành trình lâu đời mà thế hệ trước có thể truyền lại cho thế hệ sau. »

Được mệnh danh là “cha đẻ” của phóng viên ảnh chiến trường, Robert Capa đã để lại cho hậu thế kho tàng ảnh tư liệu đồ sộ, lột tả trần trụi hiện thực nghiệt ngã của chiến tranh. Qua lăng kính đầy tính nhân văn, những tác phẩm của ông không chỉ xuất hiện trên khắp các mặt báo lớn mà còn chứng minh sức mạnh của nghệ thuật kể chuyện bằng hình ảnh, lay động hàng triệu độc giả. Triển lãm tại bảo tàng Libération ở Paris, từ ngày 18/02 đến ngày 20/12 là dịp để công chúng tại Pháp nhìn lại những cột mốc đánh dấu sự nghiệp của nhiếp ảnh gia huyền thoại – Robert Capa. Triển lãm trưng bày hơn 60 bức ảnh do ông chụp trong nhiều giai đoạn khác nhau trên khắp địa cầu, cùng những tài liệu, kỷ vật cá nhân của ông. Robert Capa tên thật là Endre Ernő Friedmann, sinh năm 1913 tại Budapest, Hungary. Bí danh “Robert Capa” được ông chọn vì nghe có vẻ “rất Mỹ”, giúp ông dễ dàng bán ảnh với giá cao hơn. Cuộc đời của ông gắn liền với những biến động lịch sử ở châu Âu và là một trong những nhà nhiếp ảnh hiếm hoi, từng tác nghiệp trong 5 cuộc chiến, từ cuộc nội chiến ở Tây Ban Nha, cho đến chiến tranh Trung – Nhật, qua Đệ Nhị Thế Chiến, và cuộc chiến ở Đông Dương, nơi ông « rơi máy », trút hơi thở cuối cùng, khi dẫm phải mìn lúc tác nghiệp tại Thái Bình, Việt Nam vào năm 1954. Đọc thêmRobert Capa: Tài liệu quý hiếm nhân 60 năm ngày giỗ Với phong cách « dấn thân » và tôn chỉ « Nếu ảnh không đẹp chứng tỏ bạn chưa đến đủ gần », Robert Capa đã đặt nền móng cho nghề phóng viên ảnh hiện đại, được coi là một trong những nhà nhiếp ảnh chiến trường vĩ đãi nhất thế kỷ XX. Để hiểu rõ thêm về Robert Capa, RFI đã phỏng vấn Kevin Desurmont, phụ trách triển lãm của bảo tàng Libération ở Paris. Bảo tàng đã chọn cách kể chuyện dẫn dắt người xem như thế nào trong triển lãm lần này để nói về Robert Capa? Chúng tôi thực hiện triển lãm này, với sự hợp tác của Magnum Photos, hãng ảnh do Robert Capa thành lập vào năm 1947. Chúng tôi khai thác kho lưu trữ của Magnum, gồm những bản in báo chí, từng được lưu hành rộng rãi trong các phòng biên tập báo chí trên khắp châu Âu và thế giới. Đây không chỉ là một bộ sưu tập ảnh, mà còn là một cuộc trưng bày các bản in và hiện vật mang theo câu chuyện lịch sử đằng sau chúng. Sợi chỉ xuyên suốt triển làm là những hình ảnh mang tính biểu tượng của ông, cách ông làm việc, cách các bản in được sử dụng trên báo chí vào những năm 1930 và sau đó. Chúng tôi liên kết tất cả các nội dung này, với con người Robert Capa, và một bộ phim tiểu sử về ông, để cuối cùng mở ra những vấn đề cốt lõi: nhiếp ảnh chiến tranh là gì, và đâu là những giới hạn đạo đức cần được cân nhắc. Chúng tôi cố gắng đặt câu hỏi về việc khi nào nhiếp ảnh chiến tranh đi quá xa ? Khi nào nhiếp ảnh gia nên dừng lại trong vai trò của mình ? Robert Capa được coi là một "nhân vật" do Friedmann tạo ra. Điểm đáng chú ý nhất của nhân vật này là gì? Robert Capa có tên khai sinh là Endre Ernő Friedmann, là một người tị nạn Do Thái từ Hungary, chống phát xít, đến Paris vào năm 1933 từ rất trẻ, (khi mới 17 tuổi) và gặp rất nhiều những người tị nạn khác, (…) và cùng gặp khó khăn trong việc bán ảnh, và cứ thế Robert Capa ra đời, có phần lập dị, là một người thích mạo hiểm và thích việc chơi đùa với cuộc sống. Ông cũng là người luôn tìm đến những nơi nguy hiểm. Ông tiến thẳng vào tâm điểm hiểm nguy, và điều này được thể hiện rất rõ trong triển lãm. Tại triển lãm, chúng tôi trưng bày cả những thước phim tư liệu ghi lại cảnh ông thực sự lao vào trung tâm của các trận giao tranh. Phong cách của ông là ở tuyến đầu, ở khoảng cách gần nhất, chụp cả những người lính trực tiếp chiến đấu lẫn cảnh khốn cùng mà chiến tranh gieo rắc. Rốt cuộc, khó có thể xếp ông vào trào lưu “nhiếp ảnh nhân văn” theo nghĩa một trường phái cụ thể, nhưng rõ ràng ông sở hữu một cái nhìn đậm tính nhân văn, đối với các nhân vật và hiện thực mà mình ghi lại. Ông đánh giá thế nào về vai trò của Capa trong lịch sử báo ảnh? Robert Capa hành nghề nhiếp ảnh vào thời điểm mà báo ảnh đang trong trải qua một cuộc cách mạng. Các báo, tạp chí, đưa ra những đường biên tập mới, cùng với sự hồi sinh mạnh mẽ của báo chí có hình minh họa. Các bức ảnh trở thành phương tiện quan trọng để phản ánh, truyền tải thời sự. Các nhà nhiếp ảnh tham gia vào quá trình này. Bên cạnh đó, là những tiến bộ kỹ thuật, với những máy ảnh ngày càng nhỏ gọn, linh hoạt với nhiều tính năng vượt trội. Nhờ vậy, nhiếp ảnh gia có thể ghi lại những sự kiện trực tiếp trên đường phố, nhanh chóng tráng, rửa ảnh và chuyển về tòa soạn để kịp thời xuất bản. Do đó, có một làn sóng đổi mới mạnh mẽ trong thập niên 1930 về báo ảnh, Capa là một trong gương mặt góp phần quan trọng vào quá trình này. Điều đặc biệt ở chỗ là ông đã trở thành phóng viên ảnh chiến trường nổi tiếng nhất, từ nội chiến ở Tây Ban Nha, quan cuộc chiến ở Đông Dương năm 1954. Công việc của ông đã được các đồng nghiệp và các tòa soạn thừa nhận. Điều này củng cố thêm kinh nghiệm chuyên môn của mình. Đông Dương cũng là nơi mà Robert Capa đã thiệt mạng khi tác nghiệp, vậy bảo tàng đề cập đến cái chết của huyền thoại nhiếp ảnh gia chiến trường này như thế nào ? Về cái chết của Capa, chúng tôi tiếp cận câu chuyện này bằng cách giới thiệu ở gian cuối cùng của triển lãm một trong những tấm ảnh cuối cùng được ông chụp. Đó là bức ảnh màu cuối cùng cho thấy những cánh đồng lúa và những người lính Pháp, được chụp trước khi ông giẫm phải mìn. Bức ảnh màu này được trình bày dưới dạng tấm in cũ và cũng có bản phóng lớn, để người xem có thể thực sự đắm mình trong khoảnh khắc cuối cùng đó. Hình ảnh màu và các cảnh tượng binh lính trên cánh đồng lúa, gợi lên cách mà các phóng viên chiến trường tiếp tục thực hành nghề nghiệp trong các xung đột sau này, đặc biệt là Chiến tranh Việt Nam, với những hình ảnh có thể được liên tưởng đến những tấm ảnh này. Triển lãm được tổ chức trong bối cảnh đang diễn ra nhiều cuộc xung đột thu hút sự quan tâm của quốc tế, từ cuộc chiến ở Ukraina cho đến xung đột ở Trung Đông. Vậy đâu là thông điệp mà bảo tàng muốn truyền tải khi đề cập đến nhà báo ảnh chiến trường Robert Capa ? Thông điệp mà chúng tôi muốn truyền tải là những bức ảnh của Capa vẫn còn mang tính thời sự, cho dù đã nhiều thập kỷ trôi qua kể từ khi ông qua đời, nó vẫn là một tiêu chuẩn tham chiếu đối với nhiều phóng viên chiến tranh đương đại. Đồng thời, chúng tôi đặt ra nhiều câu hỏi xuyên suốt triển lãm về cách các tấm ảnh được lan toả, và về vị trí của người chụp. Ví dụ, có một câu hỏi trọng tâm là: đến lúc nào thì một phóng viên nên dừng chụp để cứu người mà họ đang ghi lại? Vấn đề này được đặt ra qua trao đổi với các nhà báo/phóng viên chiến tranh hiện đại, trong đó một đại diện của hãng Magnum, đã trả lời chúng tôi rằng nhiều câu hỏi mà Capa từng đối diện vẫn còn nguyên giá trị ngày nay, bất chấp tiến bộ kỹ thuật và những hình thức xung đột mới. RFI Tiếng Việt xin chân thành cảm ơn ông Kevin Desurmont, và bảo tàng Libération Paris.

Từ ngày 27/11 đến 9/12 năm 2025, nghệ sĩ piano Pháp-Rumani Dana Ciocarlie đã thực hiện chuyến lưu diễn tại Việt Nam, đưa khán giả đi qua những dòng sông, nơi âm nhạc gợi lên hình ảnh chuyển động của nước và tạo thành những kết nối giữa các thế hệ, các nền văn hóa. Chuyến lưu diễn nằm trong khuôn khổ dự án Vivre avec les fleuves của Viện Pháp và danh hiệu Living with Rivers của hiệp hội Novelette, thể hiện tinh thần hợp tác nghệ thuật và ý thức về môi trường, biến mỗi buổi trình diễn thành một hành trình khám phá đầy cảm hứng. Việt Nam là một đất nước được hình thành và được nuôi dưỡng nhờ nước. Các con sông không chỉ tạo nên địa hình và cảnh quan, mà còn đóng vai trò trung tâm trong đời sống kinh tế, xã hội và văn hóa. Từ miền Bắc đến miền Nam, sông ngòi kết nối các vùng đất, định hình đô thị, điều tiết mùa màng và lưu giữ ký ức tập thể. Tại Hà Nội, nhịp sống đô thị dày đặc, liên tục vận động, gợi cảm giác dòng chảy không ngừng. Ở phía Nam, sông nước mênh mông, chia nhánh, tạo thành vùng châu thổ rộng lớn của sông Mê Kông. Trong bối cảnh ấy, chuyến lưu diễn của Dana Ciocarlie gợi lên hình ảnh một cuộc hành trình xuôi theo dòng nước, nơi âm nhạc đối thoại với không gian, lịch sử và con người. Dự án này không chỉ xuất phát từ một chủ đề hay một lãnh thổ, mà còn từ một tình bạn Pháp–Việt được xây dựng qua thời gian. Trước chuyến lưu diễn, đó là một quá trình trao đổi lâu dài, dựa trên sự tin cậy, những câu chuyện được chia sẻ và « dịch chuyển » theo nghĩa rộng : dịch chuyển trong ngôn ngữ, văn hóa và ý tưởng sáng tạo nghệ thuật. Âm nhạc dần trở thành phương tiện chung, kết nối sông Loire – biểu tượng di sản của Pháp – với sông Mê Kông, nguồn sống thiết yếu của Việt Nam, và rộng hơn là kết nối các dân tộc với nhau. Dana cho biết : « Ở Pháp, chúng tôi có một con sông lớn mang tên Loire, đồng thời cũng là nơi khai sinh hiệp hội Novelette mà tôi tham gia thành lập. Và năm 2025 lại được chọn là Năm Quốc tế về sông nước, nên điều này thật hiển nhiên khi chúng tôi nghĩ đến việc tạo nên một chương trình âm nhạc và hành trình khám phá Việt Nam, bắt đầu từ Loire sau đó hướng về Mê Kông. Hai dòng sông này thậm chí còn được chính thức kết nghĩa với nhau. » Chuyến lưu diễn được triển khai với sự hỗ trợ của Viện Pháp tại Việt Nam và hiệp hội Novelette, đơn vị đạt danh hiệu Living with Rivers. Dự án là những suy tư về nước không chỉ như một yếu tố tự nhiên, mà như một mối liên kết sống động giữa con người, văn hóa và sáng tạo. Trong khuôn khổ đó, sông trở thành một không gian gặp gỡ giữa các lĩnh vực, các thế hệ và các chương trình nghệ thuật khác nhau. Một trong những khoảnh khắc đáng nhớ của chuyến lưu diễn là cuộc gặp gỡ với nhóm nghiên cứu CARE (Center Asian Research on Water) trên sông Sài Gòn, nơi Dana Ciocarlie trao đổi về tình trạng của các hệ thống sông ngòi đô thị với các nhà khoa học Pháp và Việt Nam. Những cuộc trao đổi này giúp bà nhận thức được rằng nước không chỉ là nguồn cảm hứng âm nhạc, mà còn là một thực thể mong manh, gắn với trách nhiệm chung, khiến mỗi buổi hòa nhạc trở thành một không gian chia sẻ và nâng cao nhận thức về môi trường. Ngày 28/11, nghệ sĩ piano Dana Ciocarlie tham gia buổi tổng duyệt đầu tiên với dàn nhạc VNSO, dưới sự chỉ huy của nhạc trưởng Honna Tetsuji. Trong chương trình biểu diễn tối 29 tháng 11 tại Phòng Hòa nhạc Quốc gia Hà Nội, bà trình diễn Concerto số 5 của Camille Saint-Saëns. Dana Ciocarlie chia sẻ : « Concerto số 5 là một tác phẩm khá đặc biệt, còn được gọi là ‘Egyptien’ (Ai Cập), lấy cảm hứng từ đất nước, con người Ai Cập và phương Đông. Văn hóa Pháp thường xuyên hướng cái nhìn về các lục địa khác, các nền văn hóa khác. Camille Saint-Saëns là một nhà soạn nhạc thuộc trường phái Lãng mạn vào thế kỷ 19. Tác phẩm này mang ý nghĩa của một hành trình khám phá.» Bà cho biết thêm: « Tác phẩm có mạch chảy xuyên suốt và đồng thời giàu tính kỹ thuật, càng rực rỡ qua tiếng dương cầm, đưa người nghe qua nhiều tâm cảnh khác nhau.» Trong buổi hòa nhạc, nghệ sĩ và dàn nhạc tạo nên một cuộc đối thoại sinh động. Kỹ thuật nhanh nhạy, linh hoạt và giàu năng lượng của Dana Ciocarlie trên phím dương cầm mang lại cho người nghe cảm giác chuyển động – lúc mềm mại, lúc dữ dội như những dòng chảy của nước - phù hợp với chủ đề trung tâm của chương trình. Khán giả tại Học viện Âm nhạc Quốc gia đã dành cho nghệ sĩ những tràng pháo tay nồng nhiệt. Đáp lễ, bà biểu diễn thêm bản Hành khúc Thổ Nhĩ Kỳ của Mozart như một món quà đặc biệt ở phần cuối chương trình. Dana Ciocarlie hiện cũng đang thực hiện các bản thu trực tiếp các concerto của Mozart tại Paris, một số đã được phát hành và các phiên bản khác sắp ra mắt, mở rộng hành trình âm nhạc mà bà đã gửi đến người Việt Nam. Từ Hà Nội, chuyến lưu diễn tiếp tục đến Huế, Đà Nẵng, Thành phố Hồ Chí Minh và Đà Lạt. Mỗi chặng dừng là một dịp gặp gỡ với các ê-kíp địa phương, khán giả, cũng như sinh viên và giảng viên các nhạc viện. Chương trình được xây dựng như một hành trình xuyên thế hệ và truyền thống âm nhạc, kết nối các nhà soạn nhạc có chung nền tảng đào tạo như Maurice Ravel, Gabriel Fauré và Georges Enesco, với các nhà soạn nhạc đương đại, trong đó có Élise Bertrand, gương mặt trẻ đang được chú ý tại Pháp, Édith Canat de Chizy và Marie Jaëll. Dana Ciocarlie đặc biệt quan tâm đến việc giới thiệu các tác phẩm của các nhà sáng tác nữ, xem đó như một phần thiết yếu trong cam kết nghệ thuật của mình. Bên cạnh đó là sự hiện diện của nhà soạn nhạc Việt Nam Tôn Thất Tiết, sinh ra tại Huế, một tên tuổi quen thuộc trên các diễn đàn âm nhạc quốc tế, dù còn ít được biết đến trong nước. Nói về tinh thần của chương trình, Dana Ciocarlie tâm sự với RFI : « Tôi nghĩ chương trình sẽ giống như một cơn lốc của những tương phản : có những bản nhạc nghe khá lạ lẫm, nhưng cũng có những giai điệu rất quen thuộc. Tôi mong đợi ở khán giả sự tò mò, sự quan tâm và cả sự thân thiện. » Các tác phẩm trong chương trình được lựa chọn để đối thoại với chủ đề nước và lịch sử âm nhạc, từ những âm thanh linh hoạt, trong trẻo của Ravel hay Dutilleux, đến không gian tĩnh tại, chiêm nghiệm của Debussy, và thế giới nội tâm, đa chiều trong các tác phẩm của Marie Jaëll, Philippe Hersant hay Édith Canat de Chizy. Fauré gợi nhịp điệu đều đặn, nhẹ nhàng như thuyền trôi êm đềm trên dòng sông phẳng lặng, Bertrand nhắc về nguồn cội, còn Tôn Thất Tiết khép lại chương trình bằng một bức tranh âm thanh đa tầng, diễn đạt những trạng thái đối lập của biển và thiên nhiên. Trả lời RFI Tiếng Việt, Dana Ciocarlie khẳng định âm nhạc là một ngôn ngữ chung, không cần lời nói, nhưng có khả năng kết nối con người và mở ra những cách nhìn mới về thế giới. Được công chúng Việt Nam đón nhận nồng nhiệt, dự án này cho thấy sự giao thoa chặt chẽ giữa nghệ thuật và ý thức môi trường. Sau hành trình tại Việt Nam, chương trình đã được giới thiệu tại Pháp, trong khuôn khổ lễ hội La Folle Journée ở Nantes, vào ngày 29/1/2026, nơi các dòng sông một lần nữa trở thành chất liệu âm nhạc và không gian suy ngẫm chung.

Với người Tây phương, Ngựa là biểu tượng của quyền lực, của sức mạnh và tự do. Ở một thời không quá xa xưa, Ngựa là bạn đồng hành vào sinh ra tử trên chiến trường. Thông minh, tinh tế, trung thành, Ngựa từng được xem như một phương pháp trị liệu để chữa lành những vết thương tâm lý : Ngần ấy lý do khiến con Ngựa có một chỗ đứng riêng biệt trong văn hóa dân gian, trong các truyền thống tín ngưỡng, cũng như trong văn học hay hội họa. Trong thần thoại Hy Lạp, Pegasus là con ngựa có cánh, biểu tượng của sự thanh cao và tính ưu việt. Trong những bức tranh cổ dưới nhiều triều đại phong kiến, nhất là dưới thời Phục Hưng, hình ảnh của các vị hoàng đế cưỡi ngựa thể hiện quyền lực tuyệt đối. Điển hình là tác phẩm Bonaparte franchissant le Grand-Saint-Bernard danh họa Jacques-Louis David thực hiện trong giai đoạn 1800–1803 : Tướng Bonaparte oai phong trên lưng ngựa trắng, vượt đèo Grand-Saint-Bernard trên dẫy núi Alpes, mở đường cho một chiến dịch quân sự vẻ vang viết nên huyền thoại Napoléon sau này. Vào thời kỳ Lãng Mạn thế kỷ XVIII-XIX, những con ngựa hoang trở thành biểu tượng của sức sống nguyên sơ, của tinh thần độc lập. Đến khi mà những cỗ xe ngựa được thay bằng xe đạp, bằng xe hơi bốn bánh, bằng những đoàn tàu hỏa, Ngựa không còn là ngựa thồ hay là phương tiện di chuyển tiện lợi nhất. Từ đó chúng trở thành thú tiêu khiển của giới thượng lưu : khi thì để đi săn, lúc thì để thi thố tài năng trên các trường đua, để cá cược… Ngựa mới chỉ bầu bạn với loài người trong khoảng thời gian từ 5500-2200 năm trước Công Nguyên, không thân thiết với nhân loại như con Chó trong nhà. Điều đó không cấm cản Ngựa là nguồn cảm hứng vô tận trong văn chương. Nhà văn người Anh, William Shakespeare từng quan niệm : « Thượng Đế đã tạo ra con ngựa từ hơi thở của Gió, từ vẻ đẹp của Đất và Tâm Hồn của con Người » cho nên, con vật ấy là « hồn, là sức mạnh tự nhiên để dẫn dắt, che chở, dẫn đường cho mỗi cá nhân hay mỗi cộng đồng ». Ngựa và tính gợi cảm Dưới nhãn quan của nhà văn người Pháp, Gustave Flaubert thế kỷ XIX thì khác. Trong tiểu thuyết Madame Bovary (1857) ông không chỉ xem Ngựa là một phương tiện di chuyển và con vật tinh tế và thông minh này trước hết là ẩn dụ cho dụng vọng, là hình ảnh của những người tình được nàng Emma lý tưởng hóa. Là một thiếu nữ có học, Emma chán anh chồng hiền lành và nhạt nhẽo như Charles. Cô tìm kiếm đam mê trong vòng tay của Rodopphe và Léon. Nhưng con ngựa mà Charles cưỡi trong lần anh đi thăm con bệnh, trong lần đầu gặp nàng Emma, là « một con ngựa cái trắng già nua (...) bước đi thiếu vững vàng ». Ngựa của Charles vụng về, hiền lành, kém hấp dẫn như ông chủ của nó. Trái lại, ngựa của Rodophe hay Léon là những con tuấn mã quyến rũ và bốc lửa. Mọi người còn nhớ hình ảnh Emma lên ngựa cùng Rodolphe nhờ có sự gửi gắm của Charles. Lần này, người và ngựa xuất hiện với vẻ ngoài hấp dẫn hơn hẳn so với anh chồng tội nghiệp : « Rodolphe đến trước cửa nhà Charles với hai con ngựa sang trọng. Một con đeo chùm tua hồng ở tai và yên ngựa phụ nữ bằng da hoẵng ». Trong chuyến dã ngoại đó, « con ngựa của Emma phóng nước đại. Rodolphe phi song song bên nàng. Thỉnh thoảng họ trao đổi vài lời. Hơi cúi mặt, tay nâng cao và cánh tay phải duỗi ra, nàng buông mình theo nhịp chuyển động của yên ngựa ». Gương mặt cúi xuống cũng như « sự buông thả theo nhịp chuyển động của yên ngựa » : Bà Bovary như thể đã sẵn sàng hiến dâng. Khi đến bìa rừng, « Họ xuống ngựa. Rodolphe buộc ngựa lại. Nàng đi trước, thả bước trên lớp rêu, (…) Nhưng chiếc váy quá dài vướng víu, dù đã được vén lên. Rodolphe, bước phía sau, ngắm nhìn giữa lớp vải đen và đôi bốt đen kia phối hợp tinh tế với đôi tất trắng (…) ». Sau những lời yêu đương ngọt nào, Rodolphe thúc ép nàng. Emma sợ hãi, cô cuống cuồng đi tìm ngựa để anh phải đỡ nàng ngang hông. Rodolphe không thể chờ thêm, chàng nài nỉ và người phụ nữ trẻ cuối cùng đã chiều lòng người yêu. Cô khẽ gọi tên Rodolphe khi nghiêng minh trên vai anh… Những con ngựa ở đây như đồng lõa, đưa Emma đến với khát khao của nàng. Đôi ngựa sang trọng của họ như thông cảm và kiên nhẫn chờ đợi khoảng thời gian cần thiết cho đôi kỵ mã … Ngựa, con vật gợi tình Ở phần hai tiểu thuyết Madame Bovary, trong vòng tay của Léon, giờ đây Emmma tìm thấy ngõ thoát, để tạm quên đi cuộc sống nhàm chán của bà. Tại thành phố Rouen, Emma và Léon hẹn nhau ở Nhà Thờ Lớn. Nàng đột nhiên bì giày vò vì cảm giác tội lỗi … Nhưng Léon thì đang nóng ruột. Anh đã vội vàng gọi một chiếc xe ngựa … Emma bị Léon đẩy vào chiếc xe vừa tới, cỗ xe bắt đầu lao khắp thành phố… Mỗi khi người đánh xe định dừng lại, một tiếng kêu từ trong xe vang lên ra lệnh cho ông ta tiếp tục. Với chút hài hước, Gustave Flaubert mô tả hành trình kỳ quặc của cỗ xe. Ông viết : « Trên bến cảng, giữa những xe thồ, những thùng hàng và mọi ngõ ngách của các con phố, người ta tròn mắt kinh ngạc trước điều quá đỗi lạ lùng ở tỉnh lẻ này. Một chiếc xe với rèm kéo kín, khép chặt như một ngôi mộ và cứ thế lao đi, chòng chành như một con tàu ». Khi tiểu thuyết được xuất bản dưới dạng đăng nhiều kỳ, một người bạn của Gustave Flaubert (Maxime Du Camp) đã từng không cho in đoạn này vì cho là quá táo bạo. Xuyên suốt cuốn tiểu thuyết, con ngựa trở thành hiện thân của người tình hoặc người chồng – tùy theo cách nhìn : những con ngựa của Léon, Emma hay Rodolphe và Charles, khi thì mềm yếu, kém quyến rũ, lúc thì lại đầy nam tính và say mê. Gustave Flaubert đã sử dụng hình tượng con ngựa không chỉ như bạn đồng hành hay phương tiện di chuyển mà như một ẩn dụ khi Emma trốn chạy trong tình yêu : Con vật gợi tình tuyệt hảo, tiếp tục phi nước đại trong những giấc mơ của nhân vật nữ chính trong truyện. Chiếc xe ngựa mà Léon đã gọi ở Rouen cuốn nàng đi xa khỏi đời sống nhàm chán và người chồng nhạt nhẽo : « Với vó câu của bốn con ngựa phi nước đại, nàng đã được cuốn đi suốt tám ngày về phía một miền đất mới, nơi họ sẽ không bao giờ trở lại. Họ cứ đi, cứ đi, tay đan vào nhau, không nói một lời (…) ». Cũng cái hình ảnh này trong tiểu thuyết Madame Bovary khiến giới yêu nghệ thuật liên tưởng đến bức tranh của họa sĩ Alfred de Dreux, một nghệ sĩ hơn Flaubert 10 tuổi, La course au baiser (Cuộc đua đến nụ hôn), được vẽ năm 1840. Trong hội họa, Eugène Delacroix (1798-1863) đâu chỉ nổi tiếng với tác phẩm Nữ Thần Tự Do dẫn đường cho dân tộc La Liberté guidant le peuple (1830). Ông còn là một trong những nghệ sĩ yêu ngựa nhất. Chẳng vậy mà ông đã để lại trên dưới một chục bức họa nổi tiếng mà nay đang được trưng bày ở những bảo tàng danh tiếng nhất thế giới như Louvre hay Musée d’Orsay … Trong đó phải kể đến Cheval sauvage terrassé par un tigre Ngựa hoang bị Hổ khống chế (1828) ; Ngựa hoảng loạn trong bão tố -Cheval effrayé par une tempête (1820) hay bức tranh sơn dầu Ngựa đánh nhau trong chuồng -Chevaux arabes se battant dans une écurie (1860) … Chuyên vẽ động vật, Delacroix từng ghi lại : « Con người là những con hổ và chó sói bị kích động chống lẫn nhau để tự hủy diệt lẫn nhau ». Trong thế giới động vật biểu tượng của trường phái lãng mạn, Delacroix đưa vào đó tính hung bạo và mãnh liệt của những loài thú dữ bị bắt gặp trong những trận chiến sinh tử. Đó cũng là những ẩn dụ về con người. Danh họa người Pháp này là một « bậc thầy về khả năng nắm bắt nguồn năng lượng dồn nén của một con vật sắp vồ mồi », của những con dã thú bị dồn vào chân tường, tất cả đều căng tràn và sự hung hãn bị kìm nén. Delacroix đã hình dung ra một màn song đấu giữa hai con thú kiêu hãnh, Ngựa và Hổ. Đấy cũng là ẩn dụ giữa sức mạnh nguyên sơ nhưng cũng có thể được thuần hóa với một sức mạnh còn hoang dã và tàn bạo. Eugène Delacroix ở những năm 1820 đã dày công nghiên cứu về về thân hình, về vóc dáng, thần sắc … của con Ngựa để đến gần nhất với con vật đã trở thành biểu tượng của tự do và bất khuất. Trắng, nâu hay xám … Ngựa luôn là loài thú được danh họa này yêu thích nhất nhờ tính chất cao quý và có phần cao ngạo của chúng …

Là thành viên ban giám khảo quốc tế của Liên hoan Điện ảnh Châu Á Vesoul 2026 ( 27/01-03/02/2026 ), trong lễ khai mạc khai mạc sự kiện này tối 27/01, bà Katayoon Shahabi, nhà sản xuất phim người Iran nay sống lưu vong tại Pháp, đã mạnh mẽ lên tiếng tố cáo những tội ác của chế độ Teheran, thảm sát hàng chục ngàn người biểu tình chống chính quyền. Đối với bà Shahabi, Iran ngày nay càng giống như là một "nhà tù lớn". Sinh tại Teheran năm 1963, Katayoun Shahabi theo học văn học Pháp trước khi gia nhập Quỹ Điện ảnh Farabi (FCF) năm 1984. Mười năm sau, bà thành lập Cima Media International, chuyên quảng bá các chương trình nghe nhìn và đồng sản xuất nhiều phim tài liệu và phim truyện. Năm 2001, bà thành lập công ty riêng, Sheherazad Media International (SMI), trở thành nhà phân phối tư nhân lớn nhất các bộ phim Iran trên toàn thế giới. Katayoun Shahabi cũng đã đồng sản xuất nhiều phim tài liệu, như với kênh truyền hình Pháp-Đức Arte và sau đó sản xuất phim truyện, vẫn theo hình thức đồng sản xuất. Katayoon Shahabi từng là thành viên ban giám khảo tại các liên hoan phim quốc tế như San Sebastian (với tư cách chủ tịch), Liên hoan phim tài liệu quốc tế Amsterdam (IDFA) và Mannheim-Heidelberg. Bà còn là thành iên ban giám khảo cho hạng mục tranh giải chính tại Liên hoan phim Cannes 2016, là người Iran thứ ba được chọn vào ban giám khảo này sau các đạo diễn Abbas Kiarostami và Leila Hatami. Trả lời RFI Việt ngữ tại Liên hoan Vesoul ngày 28/01/2026, Katayoun Shahabi cho biết: “Tôi bắt đầu sự nghiệp ở tuổi 20 tại Quỹ Điện ảnh Farabi, chuyên quảng bá phim Iran trên toàn thế giới. Chính tại đó mà tôi thực sự khám phá ra điện ảnh Iran, khám phá những đạo diễn lớn. Tôi chưa từng học về điện ảnh và ban đầu không có mục tiêu làm phim, nhưng lúc đó tôi quyết định sẽ làm việc trong lĩnh vực điện ảnh. Tôi lớn lên trong một gia đình mà không ai bảo tôi rằng một phụ nữ sẽ bị những hạn chế. Vì vậy, khi bắt đầu làm việc, tôi không hiểu tại sao tất cả các đồng nghiệp mới được tuyển dụng đều được đi dự liên hoan phim, trong khi tôi thì không được cử đi. Tôi cũng không hiểu tại sao tôi không thể viết tên mình mà luôn phải viết tên của những người đàn ông làm việc với tôi. Như thể tôi là người vô hình vậy! Đó là lý do tại sao tôi đã từ chức khỏi Quỹ Điện ảnh Farabi và sau chín năm, tôi rời khỏi Cima Media International, rồi quyết định thành lập công ty riêng của mình. Khi còn làm công tác truyền thông, tôi đã yêu cầu được cử đi nước ngoài vì tôi là giám đốc phụ trách các vấn đề quốc tế, nhưng họ không muốn cử tôi đi, chẳng hạn như tham gia Liên hoan phim Cannes. Tôi bèn nói với họ: "Hoặc là các ông cử tôi đi, hoặc là tôi sẽ từ chức." Thế là họ phải cử tôi đi, vì tôi là người có kinh nghiệm nhất, họ không có ai khác. Vì vậy, tôi hiểu rằng mình luôn phải đòi những gì mình phải được hưởng, vì không ai tự nhiên cho mình cả.” Ngày 17/09/2011, Katayoon và sáu nhà làm phim khác bị bắt giữ với cáo buộc "làm gián điệp cho Đài BBC tiếng Ba Tư". Chính quyền cho rằng các phim tài liệu do BBC phát sóng là bất hợp pháp và vẽ nên "một bức tranh đen tối về Iran và người dân Iran". Các vụ bắt giữ này đã dẫn đến nhiều cuộc biểu tình phản đối trên thế giới. Katayoon Shahabi kể lại: “Tôi đã bị bắt sau khi ban tiếng Ba Tư của đài BBC được thành lập ở Iran. Vào năm 2008 đã có các cuộc bạo loạn đầu tiên và BBC Ba Tư đã đưa tin về những vụ đó. Họ đã tiếp cận tôi với tư cách là nhà sản xuất và phân phối phim để đề nghị tôi làm phim, nhưng tôi từ chối. Sau đó, họ sản xuất một bộ phim về Khamenei và muốn phát sóng nó. Chính quyền đã nói với họ: "Nếu các ông phát sóng bộ phim đó, chúng tôi sẽ coi đó là lằn ranh đỏ. Chúng tôi sẽ khiến không ai có thể làm việc với các ông nữa." Tôi là nhà sản xuất kiêm nhà phân phối quốc tế duy nhất trong số họ và là phụ nữ duy nhất. Vì tôi khá nổi tiếng trong giới điện ảnh lúc đó, họ muốn lấy tôi làm gương và nói rằng: “Hãy cẩn thận, cô có thể bị bắt bất cứ lúc nào”. Khi bị bắt giữ, lúc đầu tôi rất ngạc nhiên và sợ hãi. Nhưng sau đó tôi tự nhủ mình không làm gì sai, chỉ làm nhiệm vụ của mình thôi. Vì vậy, tôi không sợ nữa. Họ muốn ghi hình tôi để làm một lời thú tội giả trên truyền hình, nhưng tôi không đồng ý, nên đã bị thẩm vấn bốn hoặc năm lần và bị biệt giam cho đến khi họ hiểu rằng tôi sẽ không làm theo ý của họ. Rất nhiều bạn bè của tôi ở bên ngoài đã làm đơn kiến nghị, có rất nhiều tiếng nói đòi thả tôi, cuối cùng họ buộc phải thả tôi.” Sau 54 ngày ngồi tù, Katayoon Shahabi được tự do, nhưng bị thu hồi giấy phép kinh doanh, đồng thời bị cấm xuất cảnh. Khi lệnh cấm được dỡ bỏ, bà đã sang Pháp đăng ký thành lập công ty mới, Noori Pictures, vào năm 2012 trước khi trở về Iran. Với công ty mới này, bà đã mở rộng hoạt động sản xuất phim và phân phối quốc tế các tác phẩm của Iran và đạt được nhiều thành công. Một số phim do công ty của bà phân phối đã đoạt giải tại các liên hoan phim quốc tế như Cannes và Venise. Với việc chính quyền Cộng hòa Hồi giáo Iran tăng cường các hạn chế đối với các nhà sản xuất phim trong những năm gần đây, Katayoon Shahabi buộc phải sản xuất phim ở nước ngoài, cụ thể là sản xuất một phim ở Afghanistan năm 2019 và một phim ở Azerbaijan ba năm sau đó. Cả hai phim đều được trình chiếu tại Liên hoan phim Venise. Bà Katayoon Shahabi thổ lộ: "Trong một chế độ độc tài thần quyền, mọi điều người dân làm, ngay cả trong nhà, nghe nhạc gì, có uống rượu hay không, có sử dụng truyền hình vệ tinh hay không, đều bị kiểm soát. Giờ đây khi đã được sống tự do ba năm ở bên ngoài, tôi càng nhận ra Iran là một nhà tù lớn.” Nhưng ngay chính bà cũng không ngờ rằng chính quyền Cộng hòa Hồi giáo nay lại tỏ ra tàn bạo như thế, thảm sát đến hàng chục ngàn người biểu tình chống chính quyền: “Đối với một người đã tham gia tất cả các cuộc biểu tình trước khi có phong trào “Phụ nữ Cuộc sống Tự do”( phong trào nỗ ra sau cái chết của nữ sinh viên Mahsa Amini, bị cảnh sát bắt vì đeo khăng choàng Hồi Giáo không đúng cách ), ngay lập tức tôi đã hiểu rằng đây là một cuộc cách mạng. Đối với tôi, những gì đang xảy ra ở Iran là sự tiếp nối của phong trào “Phụ nữ Cuộc sống Tự do”. Trên thực tế, tất cả các cuộc biểu tình trong những năm 2009, 2017, 2019 thực sự bổ sung cho nhau. Nhưng trên hết, phong trào “Phụ nữ Cuộc sống Tự do” là một cuộc cách mạng, đặc biệt là vì chính thế hệ Z đã khởi xướng cuộc cách mạng này. Chúng tôi nghĩ rằng không chỉ là do khó khăn kinh tế, mà là do người dân Iran đã quá chán ghét chế độ. Trên xe taxi, trên các phương tiện giao thông công cộng, mọi người đều phàn nàn, mọi người đã bắt đầu lăng mạ giáo chủ Khamenei Vì vậy, đối với tôi, đó là điều có thể dự đoán được. Tôi không ngạc nhiên, tôi hiểu sự phẫn nộ và tôi chắc chắn sẽ có một cuộc đàn áp đẫm máu, nhưng chưa bao giờ trong đời tôi nghĩ con số người bị giết lại lên đến 50.000. Thật sự là chưa từng có! Họ đã giết quá nhiều người, mỗi người bị giết, cả gia đình đều nổi dậy. Nay mọi người đều hiểu rằng, ở một đất nước không có tự do, không có dân chủ, ngay cả khi nền kinh tế phát triển tốt, đất nước cũng sẽ không thể tiến xa hơn nữa. Nhưng quá nhiều người chết, những người con ưu tú nhất của đất nước chúng tôi đã ra đi vì tự do, và điều đó làm tôi đau lòng.” Trước mức độ tàn bạo của cuộc đàn áp biểu tình, bà Katayoon Shahabi cho rằng đã đến lúc Pháp nói riêng và châu Âu nói chung phải thật sự có hành động để đứng hẳn về phía người dân Iran: “Tôi nghĩ vấn đề ở châu Âu là có rất nhiều lời nói suông mà không có hành động cụ thể. Đặc biệt là với Pháp, ví dụ lập trường của họ đối với Palestine và Ukraina nhìn chung được coi là những lập trường tốt. Nhưng trên thực tế, hành động của họ không phù hợp với lập trường đó. Chắc chắn đó là lý do tại sao, thật không may, chỉ có Mỹ và Israel. Họ vẫn chưa can thiệp, nhưng tôi chắc chắn rằng Trump là người tính toán về kinh tế và biết rằng Iran là một quốc gia rộng lớn với rất nhiều tài nguyên. Ông ấy sẽ can thiệp vì ông ấy đã hứa. Nhưng thật đáng tiếc, vì tôi thích các nước dân chủ can thiệp hơn, giống như họ đã làm ở Serbia với Kosovo hay với Bosnia - Herzegovina vào những năm 1980. Vì đây thực sự là tội ác chống nhân loại. Chế độ Iran là một chế độ mafia. ADN của chế độ này giống như của Putin. Ta không thể nói chuyện với Putin, không thể nói chuyện với Hitler, không thể nói chuyện với Mussolini. Họ đối thoại chỉ để câu giờ. Chỉ có vũ lực mới giải quyết được. Hoặc là châu Âu có lập trường cứng rắn và không chỉ dựa vào các giải pháp ngoại giao, hoặc họ sẽ nói: "Hãy nhìn xem, đây là tội ác chống nhân loại. Nếu các người tiếp tục, chúng tôi phải can thiệp." Tôi tin Iran cũng cần hiểu rằng vào năm 1979, với cuộc cách mạng của mình, họ đã cho thế giới thấy tôn giáo có thể được sử dụng để cai trị. Giờ đây, với phong trào Phụ nữ Cuộc sống Tự do, họ đang trình bày một mô hình hoàn toàn trái ngược với mô hình năm 1979. Đây thực sự là một cuộc cách mạng rất hiện đại mà thế giới cần đến để đạt được bình đẳng nam nữ. Vì vậy, đây không phải chỉ riêng ở Iran, mà là một vấn đề mang tính phổ quát.” Trong khi đó, giới điện ảnh trong ước tiếp tục bị chính quyền Cộng hòa Hồi Giáo đàn áp. Đạo diễn Iran Mehdi Mahmoudian nằm trong số ba người bị bắt ngày 01/02 vì nghi ngờ giúp lan truyền thông điệp của cựu thủ tướng Mir Hossein Mousavi ( một nhân vật hàng đầu trong phe đối lập Iran, bị quản thúc tại gia từ năm 2011 ) chỉ trích chế độ Teheran, theo tin từ hãng thông tấn Fars của Iran. Mehdi Mahmoudian là đồng biên kịch của bộ phim "A Simple Accident", đoạt giải Cành cọ vàng tại Liên hoan phim Cannes năm 2025. Phẫn nộ vì chiến dịch đàn áp biểu tình, ngày 02/02, nữ tài tử nổi tiếng người Iran Elnaz Shakerdoost, từng đóng vai chính trong hàng chục bộ phim, tuyên bố c...

Năm mươi năm sau ngày Agatha Christie qua đời (1890-1976), các tác phẩm của bà vẫn giữ nguyên sức cuốn hút đối với nhiều thế hệ độc giả. Với hơn hai tỷ rưỡi quyển sách bán chạy từ gần một thế kỷ qua, nữ hoàng tiểu thuyết trinh thám Agatha Christie chẳng những là một trong những tác giả được đọc nhiều nhất, mà còn gợi hứng cho các nhà làm phim thực hiện các bản phóng tác điện ảnh cũng như truyền hình. Theo công ty nghiên cứu thị trường GfK, có trụ sở tại Đức, khi qua đời nhà văn người Anh Agatha Christie đã để lại một di sản nghệ thuật đồ sộ với 66 quyển tiểu thuyết, khoảng 150 truyện ngắn, 20 vở kịch và hai cuốn hồi ký. Thế nhưng, có khá nhiều người hâm mộ lần đầu tiên khám phá thế giới của nữ hoàng tiểu thuyết trinh thám không phải là qua văn chương mà chủ yếu là qua phim ảnh. Kể từ đầu những năm 1930, tác phẩm của Agatha Christie đã bắt đầu được chuyển thể lên màn ảnh lớn với nhân vật thám tử tư Hercule Poirot, đó là trường hợp của bộ phim Black Coffee (Cà phê đen 1931) dựa theo vở kịch cùng tên. Từ đó đến nay, đã có khoảng 50 tác phẩm của bà được phóng tác thành phim truyện điện ảnh, trong khi các phiên bản nhiều tập chiếu trên đài truyền hình được phát đi phát lại, rất nhiều lần. Chuyên gia Jérémy Picard là tác giả quyển sách « Agatha Christie : Des romans à l'écran » (Agatha Christie : Từ tiểu thuyết đến màn ảnh) do nhà xuất bản Hugo Doc phát hành. Trả lời phỏng vấn RFI Pháp ngữ, anh cho biết có một điều nghịch lý là mặc dù các bộ phim thành công rực rỡ, nhưng sinh thời Agatha Christie lại không thích các phiên bản điện ảnh phóng tác từ các quyển tiểu thuyết của mình. « Theo tôi, bà Agatha Christie không có nhiều thiện cảm với các bản phóng tác điện ảnh vì lý do tuổi tác. Bà thuộc thế hệ lớn lên trước thời đại khai sinh nền điện ảnh. Những bản chuyển thể đầu tiên từ tiểu thuyết thành phim truyện, thực sự đã gây thất vọng : người xem có cảm tưởng phim trinh thám được quay để "kiếm tiền" chứ không hề có tham vọng nghệ thuật nào. Riêng đối với chính tác giả, các bản phóng tác điện ảnh đầu tiên ít khi nào trung thành với tác phẩm gốc : cốt truyện, nhân vật và thậm chí kết cục bị thay đổi đáng kể, theo ý muốn của nhà sản xuất. Vào năm 1933, bộ phim Pháp "Chiếc hộp sơn mài" (Le coffret de laque) với nữ diễn viên Danielle Darrieux trong vai chính đã được cho ra mắt khán giả mà không hề ghi rằng phim này dựa trên tác phẩm (Cà phê đen/Black Cofee) của nhà văn Agatha Christie. Điều đó khiến bà ghét những người chuyên cắt xén, sửa đổi hay viết lại kịch bản. » Nếu không có nhiều cảm tình với các nhà sản xuất phim ảnh, vậy thì tại sao sinh thời, nữ hoàng tiểu thuyết trinh thám Agatha Christie thường hay bán lại quyền khai thác các quyển sách ăn khách của mình. Tác giả Jérémy Picard giải thích tiếp : « Sinh thời, bà Agatha Christie có đầu óc thực dụng của một nhà kinh doanh. Mặc dù không mặn mà gì với ngành công nghiệp điện ảnh, nhưng bà vẫn tiếp tục nhượng lại bản quyền vì lý do tài chính. Phim dựa theo tiểu thuyết của bà thường có nguồn kinh phí cao, trong trường hợp bộ phim thu hút được nhiều khán giả, bà lại càng dễ mặc cả bản quyền của mình khi có dự án làm phim mới. Xa hơn nữa, thành công của bộ phim phóng tác cũng có lợi cho tác phẩm gốc. Thành công của các phiên bản điện ảnh giúp cho các nhân vật trở nên gần gũi hơn với những khán giả không đọc sách và từ đó họ có thể tìm đọc các quyển tiểu thuyết của nhà văn người Anh. Vào những năm 1960, khi lần đầu tiên bộ tiểu thuyết với nhân vật Miss Marple được chuyển thể thành phim truyền hình nhiều tập, với nữ diễn viên Margaret Rutherford trong vai chính, bà Agatha Christie đã không ngại lên tiếng chê bai, từ khâu soạn kịch bản cho đến thành phần diễn viên mà bà cho là quá tệ. Tuy nhiên, sau một thời gian, khi Miss Marple thành công trên màn ảnh nhỏ, chinh phục được nhiều khán giả truyền hình, thì lúc ấy nhà văn người Anh mới đổi ý. Điều đó cho thấy quan hệ hơi mâu thuẫn giữa Agatha Christie với ngành sản xuất phim ảnh, cho dù không thích nhau nhưng buộc phải "sống chung". » Từ cuối những năm 1950 trở đi, các bản phóng tác điện ảnh (nhất là « Witness for the Prosecution » vào năm 1958) trở thành những bộ phim ăn khách thu hút được nhiều khán giả nhờ dàn ngôi sao màn bạc hàng đầu. Cách tuyển chọn nhiều ngôi sao hạng A vào các vai diễn, chính cũng như phụ, thực sự trở thành một hệ thống từ năm 1974 trở đi. Tác giả Jérémy Picard cho biết vì sao có nhiều diễn viên danh tiếng nhận lời đóng phim phóng tác từ truyện Agatha Christie : « Bởi vì đó là dấu ấn tạo ra nét độc đáo của các bộ phim dựa theo tiểu thuyết của Agatha Christie. Hệ thống tuyển lựa « dàn sao » nổi tiếng bắt đầu với bộ phim « Án mạng trên chuyến tàu tốc hành phương Đông » (Murder on the Orient Express) của Sidney Lumet. Vào thời bấy giờ đạo diễn Mỹ nhận lời quay phim với điều kiện mỗi nhân vật (dù là chính hay phụ) phải do một ngôi sao thủ vai. Trước hết, một dàn diễn viên càng hùng hậu càng dễ lôi kéo khán giả vào rạp. Thứ hai, theo quan niệm của nhà đạo diễn Sidney Lumet, do trong cuộc điều tra vụ án, bất cứ ai cũng có thể bị tình nghi, cho nên việc nhiều ngôi sao xuất hiện cùng lúc giúp duy trì nét bí ẩn, khiến cho khán giả càng không dễ đoán ra ai thực sự là thủ phạm. Chiến lược của Sidney Lumet đã nhắm trúng mục tiêu, vì ngôi sao Ingrid Bergman đã đoạt giải Oscar diễn xuất nhờ bộ phim này dù cô xuất hiện trên màn ảnh lớn chỉ trong vòng 8 phút. Thành công này thuyết phục nhiều diễn viên sau đó tham gia các dự án làm phim khác. Hệ thống dàn sao được lặp lại vào năm 1978 với bộ phim "Án mạng trên sông Nile" (Death on the Nile) và gần đây hơn nữa là ba tập phim Agatha Christie do đạo diễn người Anh Kenneth Branagh thực hiện. Một giai thoại thú vị là nam diễn viên Johnny Depp được trả 10 triệu đô la để đóng vai nạn nhân bị sát hại trong bộ phim "Murder on the Orient Express" (Án mạng trên chuyến tàu tốc hành phương Đông) vào năm 2017. Johnny Depp chỉ xuất hiện trên màn ảnh trong 20 phút. Hãy thử tính xem : nam diễn viên người Mỹ nhận được khoảng nửa triệu đô la cho mỗi phút đóng phim !!! » Trong lãnh vực truyền hình, tiểu thuyết Agatha Christie ăn khách trở lại, khi các nhân vật trong truyện được đưa lên màn ảnh nhỏ. Đầu tiên hết là nhân vật Miss Marple, có đến ba nữ diễn viên khác nhau qua nhiều thời kỳ, đã đóng vai bà cụ thích ngồi đan áo, nhưng nhờ óc quan sát tinh tế, mà tháo gỡ được nhiều nút thắt bí ẩn, để rồi phá án một cách ly kỳ. Đổi lại, theo Jérémy Picard, trong vai thám tử người Bỉ Hercule Poirot, hầu như mọi người đều đồng ý rằng không ai đóng vai này, hay bằng nam diễn viên David Suchet. « Phải công nhận rằng trong hơn 20 năm, David Suchet đã có một lối diễn đạt xuất sắc tài tình, khi ông hóa thân thành thám tử Hercule Poirot. Điều thú vị là khi được mời đóng vai này, ông hơi đắn đo do dự vì lúc ấy ông không biết gì nhiều về thế giới của Agatha Christie. Để chuẩn bị vai này, David Suchet đã đọc toàn bộ tác phẩm, ghi chú từng chi tiết nhỏ nhặt nhất, dùng để mô tả nhân vật trong truyện : từ thói quen, dáng đi, cách ăn nói để có thể tạo ra một nhân vật gần giống nhân vật tiểu thuyết, một người có kiến thức uyên bác, có óc quan sát bén nhạy nhưng đồng thời cũng lắm tật. Bên cạnh đó, thành công của loạt phim truyền hình này phần lớn cũng là vì kịch bản phóng tác trung thành với bản gốc của tiểu thuyết. » Nửa thế kỷ sau ngày tác giả qua đời, sức cuốn hút của Agatha Christie một lần nữa bùng phát trở lại với sự xuất hiện trên mạng Netflix của một bản chuyển thể mới với tựa đề « The Seven Dials » (Kỳ án bảy mặt đồng hồ). Phim này dài ba tập và hứa hẹn nhiều tình tiết gay cấn ly kỳ xung quanh cái chết của nhiều thanh niên có liên quan đến một hội kín bí ẩn. Sự kiện có thêm một tác phẩm ít nổi tiếng (so với Hercule Poirot và Miss Marple) được dựng thành phim nhiều tập, cho thấy sức sống bền bỉ của các bộ tiểu thuyết, có mang chữ ký của nữ hoàng trinh thám Agatha Christie.